Thứ sáu, ngày 07 tháng sáu năm 2013

Android, Chrome OS trở thành “mỏ vàng” của… Microsoft

Mặc dù là nền tảng mang tính chất mở và hoàn toàn miễn phí, lại thuộc quyền sở hữu của Google, tuy nhiên Android và ChromeOS lại trở thành “mỏ vàng” của Microsoft khi các hãng công nghệ phải trả phí bản quyền cho Microsoft nếu muốn sử dụng 2 nền tảng mở này.

Theo đó, Microsoft và hãng điện tử Hon Hai (Đài Loan) vừa ký một thỏa thuận mà Microsoft sẽ được nhận một khoản phí bản quyền cho mỗi sản phẩm chạy nền tảng Android và Chrome OS do Hon Hai sản xuất, trong đó bao gồm smartphone, máy tính bảng và smartTV.

Hon Hai là chủ sở hữu của Foxconn (Trung Quốc), hãng điện tử lớn nhất thế giới, lắp ráp đến 40% thiết bị công nghệ trên toàn thế giới và là đối tác lắp ráp chính của Apple hiện nay.




Thuộc sở hữu của Google nhưng Android lại là “mỏ vàng” của Microsoft

Mặc dù là nền tảng mở, miễn phí là thuộc quyền sở hữu của Google, tuy nhiên hiện Microsoft đang nắm giữ nhiều bản quyền công nghệ quan trọng trên 2 nền tảng Android và Chrome OS, trong đó có công nghệ điều hướng và cách thức hiển thị website trên 2 nền tảng này.

“Chúng tôi rất vui mừng rằng trong danh sách các công ty được hưởng quyền lợi từ chương trình bản quyền trên Android của Microsoft bây giờ đã có thêm Hon Hai, công ty lắp ráp sản phẩm điện tử lớn nhất thế giới”, Horavio Gutierrez, Phó chủ tịch và Giám đốc bộ phận Sở hữu bản quyền của Microsoft tuyên bố sau khi thỏa thuận được ký.

Trong khi đó, về phần mình, Samuel Fu, Giám đốc bộ phạm Sở hữu trí tuệ của Hon Hai cũng cho biết: “Chúng tôi tôn trọng và thừa nhận tầm quan trọng những nỗ lực quốc tế trong việc bảo vệ sở hữu trí tuệ. Các thỏa thuận đạt được với Microsoft cho thấy những nỗ lực và sự ủng hộ của chúng tôi về các thỏa thuận thương mại quốc tế và thực hiện bảo hộ sáng chế”.

Với thỏa thuận mới đạt được với Foxconn, “hầu hết các hãng sản xuất sử dụng nền tảng Android của Google đã đạt thỏa thuận sở hữu trí tuệ với Microsoft”, Gutierrez cho biết.

Trước Hon Hai, nhiều hãng công nghệ sử dụng nền tảng Android khác như HTC, Samsung, Suanta, Copal Electronics, Wistron, LG, Acer, ViewSonic, Pegatron… cũng đã phải ký thỏa thuận với Microsoft mà theo đó các hãng sẽ phải trả cho Microsft một khoản phí nhất định cho mỗi thiết bị sử dụng Android mà mình bán ra.

Động thái của Microsoft là một trong những biện pháp để kìm hãm sự phát triển của Android trên thị trường di động. Hiện tại Google đang cung cấp miễn phí nền tảng Android cho các hãng sản xuất, trong khi Micrsoft tận dụng triệt để các bản quyền công nghệ mình đang nắm giữ để kiếm thêm doanh thu từ nền tảng do đối thủ sở hữu.

Mặc dù Microsoft không công bố rõ doanh thu của mình đạt được từ nền tảng Android là bao nhiêu, tuy nhiên giới thạo tin cho rằng hàng năm, “gã khổng lồ phần mềm” này thu về hàng trăm triệu USD nhờ Android. Điều này là hoàn toàn dễ hiểu khi Android đang là nền tảng di động phổ biến nhất trên thị trường smartphone hiện nay.

Để có thêm thông tin cách tốt nhất bạn nên liên hệ trực tiếp tới Topiclaw

Phạt nặng hành vi vi phạm bản quyền báo chí

Bộ Thông tin & Truyền thông sẽ phối hợp với Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch tăng cường công tác thanh tra và xử lý nghiêm đối với các vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan trong lĩnh vực báo chí và thông tin điện tử trên internet.

Đó là khẳng định của Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông (TT-TT) Đỗ Quý Doãn sau khi nhận được kiến nghị của nhiều cơ quan báo chí điện tử về tình trạng không ít trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đã và đang lấy lại tin bài của các cơ quan báo chí khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của các báo này. Hành vi này vi phạm các quy định về báo chí, về tác giả và quyền liên quan.

Thứ trưởng cho biết thêm, để hạn chế tình trạng vi phạm bản quyền liên quan đến các tác phẩm báo chí, Bộ TT-TT đã gửi công văn đến các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đang khai thác, sử dụng thông tin của các cơ quan báo chí để đăng tải trên trang thông tin điện tử của mình. Bộ yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp này nghiêm túc tuân thủ các quy định của pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ; Nghị định số 100/2066/NĐ- CP ngày 21/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định số 97/2008/NĐ- CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý cung cấp sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet đối với hoạt động quản lý trang thông tin điện tử và dịch vụ mạng xã hội trực tuyến.


Để có thêm thông tin cách tốt nhất bạn nên liên hệ trực tiếp tới Topiclaw

Thứ ba, ngày 21 tháng năm năm 2013

Sở hữu trí tuệ được đăng ký nhiều tại Topiclaw !

Topiclaw là nhà đại diện sở hữu trí tuệ lớn nhất cả nước, chúng tôi chuyên tư vấn đăng ký nhãn hiệu, thương hiệu và mã vạch...

Tuần qua là một tuần bận rộn với Topiclaw khi đạt được mức 200 bộ hồ sơ đăng ký mã vạch, nhãn hiệu, ngoài ra còn có rất nhiều logo được đăng ký tại Topiclaw !

Chúng tôi có các chuyên gia chuyên tư vấn về luật sở hữu trí tuệ như +Lại Cao Sơn+Nguyễn Quang Hiển , +Nguyễn Linh

Nếu bạn có nhu cầu dịch vụ đừng ngần ngại liên hệ tới Topiclaw để được tư vấn trực tiếp !


Để có thêm thông tin cách tốt nhất bạn nên liên hệ trực tiếp tới Topiclaw

Thứ tư, ngày 13 tháng ba năm 2013

Mua bán nhượng quyền thương hiệu tại Việt Nam


Có mặt tại Việt Nam từ những năm 90 nhưng hình thức nhượng quyền thương hiệu (franchise) vẫn còn khá mới mẻ. Khi Việt Nam chính thức là thành viên WTO, hoạt động francmới thực sự nở rộ

Việt Nam chính thức mở cửa thị trường bán lẻ từ ngày 1/1/2009. Bên cạnh sự có mặt của một số tập đoàn bán lẻ nước ngoài, các công ty về nhượng quyền thương hiệu cũng bắt đầu xâm nhập. Tuy nhiên, các hợp đồng fanchise tại Việt Nam còn khiêm tốn trong khi thị trường được đánh giá là rất nhiều tiềm năng.

Cũ người mới ta
Chưa bao giờ có nhiều thương hiệu nổi tiếng thế giới xuất hiện nhiều tại Việt Nam như hiện nay như MCDonald, Lotteria, Goloria Jeans Coffees, Lee’s Sandwiches, Jollibee, KFC… Nhiều thương hiệu khá thành công, số lượng cửa hàng tăng lên nhanh chóng. KFC là một ví dụ, nếu như đầu năm 2007 KFC chỉ có khoảng 20 cửa hàng trên cả nước thì đến nay đã lên đến 55 cửa hàng.

Theo phân tích của Luật sư Hồ Hữu Hoành, Giám đốc Trung tâm thông tin nhượng quyền thương mại Việt Franchise, nếu các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam thì sẽ mất thời gian và kinh phí cho việc tìm hiểu và xây dựng hệ thống phân phối. Ngoài ra, họ còn vấp phải trở ngại trong quy định của Việt Nam đối với đơn vị bán lẻ 100% vốn nước ngoài (nếu mở của hàng thứ hai tại Việt Nam sẽ phải xin giấy phép mới).

Vì vậy, các đơn vị nước ngoài tìm cách liên kết doanh nghiệp trong nước để nhượng quyền kinh doanh thương hiệu. Lợi thế của những doanh nghiệp trong nước là sự am hiểu thị hiếu người tiêu dùng, luật pháp… Với kinh phí trung bình khoảng 300.000 - 500.000 USD là có thể trở thành một đơn vị nhượng quyền thứ cấp cho một thương hiệu nổi tiếng thế giới. Luật Nhượng quyền thương hiệu mới của Việt Nam cho phép sử dụng luật pháp nước ngoài để điều chỉnh quan hệ nhượng quyền thương hiệu, trong khuôn khổ quy định của pháp luật.

Franchise tại Việt Nam sẽ sôi động

Trong một hội thảo gần đây tổ chức tại TP HCM, ông William Edwards, Giám đốc công ty CEO, Edwads Global Services (Hoa Kỳ), cho biết, kinh nghiệm các thương hiệu lớn (chiếm 70% - 80% ở Mỹ) cho thấy, khi thực hiện việc nhượng quyền, họ đã tính đến mức độ khả quan của thị trường. Hàng trăm thương hiệu đã franchise tồn tại và thành công ở thị trường Châu Á (thị trường kinh doanh thương hiệu có doanh thu hơn 50 tỷ USD mỗi năm). Ông Edwards chia sẻ thêm, những doanh nghiệp không có đủ khả năng, tiềm lực tài chính để mở rộng chuỗi phân phối trên phạm vi rộng thì franchise là một giải pháp rất hữu hiệu.

Hiện có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài muốn nhượng quyền cho doanh nghiệp trong nước. Theo họ, thời điểm này rất dễ chọn những địa điểm đẹp tại các thành phố lớn với giá cả phải chăng (trong franchise, địa điểm là yếu tố quyết định 50% cơ hội thành công). Theo ông Hoành, đây là sự đón đầu của các doanh nghiệp ngoại. Qua được giai đoạn khủng hoảng tài chính thì thị trường franchise tại Việt Nam sẽ rất sức sôi động.

Ông Albert Kong, Chủ tịch Công ty Asiawide Franchise, cho rằng, thị trường franchise tại Việt Nam còn sơ khai, chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng mạnh, dân số đông...Vì vậy tiềm năng của thị trường này vẫn rất lớn. Thời gian tới sẽ có nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đổ bộ vào Việt Nam bằng con đường franchise. Theo ông Kong, kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn khó khăn nhưng đó cũng là cơ hội, vấn đề nằm ở chỗ ai là người biết nắm thời cơ và có điều kiện để biến cơ hội thành hiện thực.

Hiện Asiawide Franchise đang tư vấn cho một số công ty trong nước như: Mỹ phẩm Sài Gòn, Công ty CP Thực phẩm nông sản xuất khẩu Sài Gòn (Agrex Sài Gòn), Vissan... phát triển franchise trong nước, sau đó sẽ tiến ra thị trường khu vực. Ngoài ra, thông qua  Asiawide Franchise, nhiều doanh nghiệp từ Singapore, Malaysia, Trung Quốc... muốn mở rộng thị trường tại Việt Nam bằng franchise.

Ông Ngô Dương Hoàng Thao, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Nhượng quyền thương hiệu Việt Nam, cũng cho rằng, thị trường franchise Việt Nam giàu tiềm năng nhưng chưa được khai phá.  Trong “bánh xe” thị phần về franchise thì ngành thực phẩm chiếm hơn 20%, những ngành khác chỉ khoảng 10%.

Điều 284, Luật Thương mại: Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.



Để có thêm thông tin cách tốt nhất bạn nên liên hệ trực tiếp tới Topiclaw

Định giá thương hiệu trong mua bán và sáp nhập công ty


Hiện nay, Mua bán - Sáp nhập (M&A) giữa các công ty tại Việt Nam đang có xu hướng phát triễn thành một trào lưu. Trong các thương vụ mua bán - Sáp nhập hoặc mưu đồ mua bán - sát nhập của chủ doanh nghiệp hay nhà đầu tư, quá trình xác định và chứng minh giá trị tài sản vô hình


Mỗi thương hiệu có những nhóm cộng đồng, khách hàng mục tiêu khác nhau và thương hiệu được đánh giá bằng chính sự ghi nhận của các nhóm công chúng, khách hàng này. Nếu một thương hiệu không có một lượng công chúng, khách hàng mục tiêu thân quen thì thương hiệu đó chỉ là những cái tên thông thường. Chính nhóm khách hàng này sẽ xác định, định giá thương hiệu.

Khi cần một căn cứ xác đáng cho giá trị của thương hiệu, sự làm chứng của các nhóm “fan” mục tiều là quan trọng nhất. Người chủ muốn bán cũng sẽ có những chứng cứ là sự ghi nhận được lượng hóa, số hóa từ phía thị trường, từ các nhóm công chúng, khách hàng mục tiêu và người mua cũng có được niềm tin về giá trị của thương hiệu mà mình mua.

Mô hình mua bán và sáp nhập tại đối với những doanh nghiệp bán đi, đều được tham vấn thực hiện một số hành động cụ thể:

Chuẩn bị các căn cứ pháp lý cho thương hiệu

Doanh nghiệp cần chuẩn bị các chứng thực pháp lý rõ ràng về quyền sở hữu tài sản thương hiệu của mình, tránh những rắc rối tranh chấp có thể nảy sinh khi chủ nhân mới tiếp quản. Thêm nửa, khi một doanh nghiệp được chuẩn bị đẩy đủ các yếu tố pháp lý cho thương hiệu mà họ sở hữu, cũng là một minh chứng cho việc ý thức và đầu tư nghiêm túc cho thương hiệu, có lợi thế hơn trong việc đàm phán mức giá.

Quy hoạch lại thương hiệu đúng với vai trò là tài một tài sản, có chức năng quản lý

Thương hiệu có chức năng quản lý, nó giúp cho chủ doanh nghiệp quản lý các sản phẩm, dịch vụ xuất hiện với hình ảnh đồng nhất trên thương trường. Và ngược lại, chính sự xuất hiện với hình ảnh thống nhất tạo nên sự thân quen trong tâm trí khách hàng. Doanh nghiệp cần thống nhất lại các quy chế quản lý nhãn hiệu, quản lý sự xuất hiện thống nhất đó.

Nghiên cứu và tìm kiếm cộng đồng làm chứng

Điều này là quan trọng nhất. Như đã phân tích ở trên, thương hiệu cần có được sự ghi nhận từ phía công chúng, khách hàng mục tiêu. Doanh nghiệp cần đo lường những hành vi và thái độ của người tiêu dùng có tác động đến hiệu quả kinh tế của thương hiệu. Trong hoạt động này, có thể sử dụng nhiều dấu hiệu khác nhau về cảm nhận của người tiêu dùng như mức độ nhận biết/ hiểu rõ/ quen thuộc về sản phẩm, những đặc trưng hình ảnh cụ thể, những yếu tố cân nhắc khi mua sắm, sở thích, mức độ thỏa mãn và giới thiệu với người khác. Bằng phân tích thống kê, các mô hình sẽ đánh giá tác động tổng hợp đối với hành vi mua sắm của người tiêu dùng, từ đó ước tính giá trị tài chính của thương hiệu và là căn cứ khá mạnh mẽ để chứng minh giá trị thương hiệu.

Xác định quá trình của thương hiệu và lộ trình phát triển

Mỗi một thương hiệu đều có đời sống riêng và thương hiệu là một sự đầu tư cho tương lai. Doanh nghiệp cần một bản mô tả về lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của nó, cũng như một chiến lược phát triễn dài hạn cho thương hiệu. Đây chính là minh chứng cho quá trình đã đầu tư nghiêm túc và dài hạn cho thương hiệu, cho một lộ trình tương lai và những lợi ích kinh tế mà củ mới sẻ được hưởng.

Lượng hóa các giá trị đã đầu tư và giá trị mang lại.

Giá trị thương hiệu cũng có xét đến một phần tổng hợp của tất cả những chi phí đã gánh chịu trong quá khứ, hay chi phí thay thế cần có để đưa thương hiệu đến trạng thái hiện tại ; tức là tổng của những chi phí phát triển, tiếp thị, quảng cáo, truyền thông... Tuy nhiên, tổng mức đầu tư này cần tính toán tương quan đến các chỉ số khác như giá chênh lệch (giữa sản phẩm/dịch vụ có thương hiệu và sản phẩm/dịch vụ không có thương hiệu), sức mạnh và sự rủi ro của thương hiệu...

Xác định giá trị là một vấn đề, còn chứng minh cho giá trị đó lại là một vấn đề khác. Trong làn sóng M&A hiện nay, tài sản thương hiệu cũng là một tài sản quan trọng và phải được số hóa thành tiền. Chúng tôi hy vọng, với những cách thức để chuẩn bị chứng minh cho giá trị thương hiệu này sẽ có ích cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kế hoạch M&A của mình.



Để có thêm thông tin cách tốt nhất bạn nên liên hệ trực tiếp tới Topiclaw

Tài sản sở hữu trí tuệ có thể giúp cấp vốn kinh doanh như thế nào?


Các tài sản sở hữu trí tuệ có thể giúp bạn củng cố điều kiện cho việc giành vốn từ các nhà đầu tư.

Để chấp thuận một đánh giá về thỉnh cầu trợ giúp vốn hay các khoản vay, nhà đầu tư (là một ngân hàng, một quỹ của chính phủ, một tư bản đầu cơ hay một nhà xuất vốn kinh doanh) sẽ xem xét sản phẩm hay dịch vụ của công ty bạn đưa ra có một tiềm lực thị trường thực sự hay không. Trong việc quyết định một doanh nghiệp hay một kế hoạch xuất khẩu họ sẽ tìm kiếm các bằng chứng: Công nghệ đó chưa được đưa ra thị trường (hay ít nhất ở một mức giá thấp hơn); Có thể có nhu cầu cho sản phẩm đó và bạn sẽ không mắc phải những khó khăn chính (luật hay vấn đề nào khác) làm cản trở việc bạn có thể thương mại hóa sản phẩm của mình.

Đưa ra một chiến lược tài sản sở hữu trí tuệ vững chắc với các tài liệu chứng minh về việc áp dụng các quyền sở hữu trí tuệ, thông tin về việc tìm kiếm bằng sáng chế chứng tỏ công nghệ của bạn không thể xâm phạm bằng sáng chế của các đối thủ cạnh tranh và (giấy phép) các hợp đồng với những người sở hữu bằng sáng chế ủy quyền cho bạn sử dụng công nghệ cần thiết để thương mại hóa một sản phẩm cũng sẽ được yêu cầu bảo đảm đầu tư vốn trước các nhà tư bản đầu cơ. Sự sở hữu các quyền sở hữu trí tuệ đối với công suất sáng tạo hay những đổi mới liên quan đến dịch vụ hay các sản phẩm mà một doanh nghiệp định quảng bá bảo đảm một mức độ độc quyền nhất định và do đó cũng đảm bảo một mức thị phần cao nếu sản phẩm hay dịch vụ chứng minh cho các khách hàng thấy được sự thành công của nó.

Vì thế, sự sở hữu tài sản sở hữu trí tuệ đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết phục các nhà đầu tư hay các nhà cho vay tạo điều kiện cho doanh nghiệp đó thương mại hóa các sản phẩm hay dịch vụ đưa ra. Trong nhiều trường hợp, một bằng sáng chế có giá trị đơn có thể mở ra nhiều cánh cửa cơ hội về tài chính.
Các nhà đầu tư hay các nhà cho vay khác nhau có thể đánh giá tài sản sở hữu trí tuệ của bạn theo các cách khác nhau và có thể xem xét mức độ quan trọng đối với các quyền sở hữu tài sản trí tuệ khác nhau. Tuy nhiên một xu hướng rõ ràng đang được phát triển hướng tới mức độ tin tưởng lớn hơn đối với các tài sản quyền sở hữu trí tuệ như một nguồn lợi thế cạnh tranh cho các công ty. Vì thế, các nhà đầu tư và các nhà cho vay sẽ ngày càng tập trung vào các công ty với một danh mục quyền sở hữu trí tuệ được quản lý tốt mặc dù thực tế họ có thể gặp phải những vấn đề mới thậm chí ở các nước phát triển trong khi cố gắng đảm bảo tốt các quyền lợi an toàn trong tài sản sở hữu trí tuệ.



Để có thêm thông tin cách tốt nhất bạn nên liên hệ trực tiếp tới Topiclaw

Câu chuyện định giá thương hiệu


Những câu chuyện mua bán, khiếu kiện liên quan đến thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước thường chỉ được nhắc đến trong những lúc trà dư tửu hậu, chưa trở thành những bài học kinh nghiệm.

Việc định giá thương hiệu, để thương hiệu trở thành tài sản của doanh nghiệp, vẫn đang chờ một cơ sở pháp lý.
Những câu chuyện cũ

Cách đây nhiều năm, việc hãng Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S với giá 5 triệu Đô la Mỹ và Colgate mua Dạ Lan với giá 3 triệu Đô la đã gây xôn xao dư luận. Năm 1999, chủ nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre, bà Hai Tỏ, đã phải lặn lội sang Trung Quốc khiếu kiện một doanh nghiệp xứ này lấy thương hiệu của mình để đăng ký bảo hộ cho sản phẩm kẹo dừa xuất khẩu. Năm 2001, Công ty Cà phê Trung Nguyên đã phải chi một khoản tiền không nhỏ để lấy lại thương hiệu do một Việt kiều ở Mỹ đã đăng ký nhãn hiệu này trước đó.

Những câu chuyện trên vẫn chưa thể gợi ra những mối quan tâm về thương hiệu từ phía cơ quan quản lý trong thời gian gần đây. Một số doanh nghiệp xin góp vốn bằng thương hiệu, nhưng đã bị Bộ Tài chính từ chối, bởi chuẩn mực kế toán 04 của bộ ban hành không cho phép việc này. Ngay cả khi làn sóng cổ phần hóa doanh nghiệp làm xuất hiện sự lúng túng về việc xác định giá trị thương hiệu cấu thành tài sản doanh nghiệp, thì vẫn chưa có một cơ quan nào đứng ra lo liệu.

Câu chuyện về giá trị thương hiệu chỉ thực sự gây sự chú ý khi Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin làm bùng lên làn sóng góp vốn bằng thương hiệu. Và cũng chính từ đề xuất của Vinashin, Bộ Tài chính mới đưa ra dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu để lấy ý kiến.

Trong lần trao đổi với TBKTSG trước đây, một thành viên trong Hội đồng Thương hiệu Quốc gia cho rằng nhờ ký được những hợp đồng đóng tàu có giá trị lớn, làm tăng giá trị thương hiệu, nên Vinashin đã được phép góp vốn bằng thương hiệu với các liên doanh nước ngoài, sau khi đã áp dụng thử nghiệm tại nhiều doanh nghiệp trong nước.

Thế nhưng việc thử nghiệm góp 30% vốn bằng thương hiệu với 103 doanh nghiệp trong nước, trong đó có nhiều doanh nghiệp nằm ngoài Vinashin, đã nhanh chóng phá sản khi con tàu Vinashin bị “mắc cạn”, kéo theo những hệ lụy không đáng có.

Việc góp vốn trên, theo các chuyên gia, không hề dựa trên một cơ sở khoa học, hay một sự định giá khả dĩ nào, mà chỉ là cảm tính, kỳ vọng. Những sự kỳ vọng trước đây về thương hiệu Vinashin nay lại trở thành gánh nặng cho các doanh nghiệp liên doanh, khiến nhiều doanh nghiệp muốn thoát khỏi thương hiệu này. Lý do là ở chỗ, cái tên đó hiện đang là trở ngại đối với doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng.

Và dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu, tiếng là “đã hoàn tất” việc lấy ý kiến, nhưng thực chất đã bị gác lại, một chuyên gia cho biết.

Cần một khung pháp lý

Theo các chuyên gia, việc xác định giá trị thương hiệu hiện nay có ba cách tiếp cận cơ bản: theo chi phí, theo thu nhập, và theo thị trường.

Tiếp cận theo chi phí là dựa trên sự tích lũy những chi phí trong việc xây dựng thương hiệu kể từ khi bắt đầu, như chi phí quảng cáo, xúc tiến, các chiến dịch sáng tạo, những khoản lệ phí, chi phí đăng ký nhãn hiệu. Thế nhưng việc xác định thương hiệu bằng cách này không phản ánh được khả năng sinh lời của thương hiệu trong tương lai, vì thế bất đắc dĩ mới sử dụng phương pháp này trong việc Định giá thương hiệu.

Cách tiếp cận theo thị trường là ước lượng giá trị thương hiệu qua việc xem xét những hoạt động mua bán trên thị trường liên quan đến những thương hiệu tương tự. Nhưng việc áp dụng phương pháp này ở Việt Nam, theo các chuyên gia, hiện chưa thể được, vì thị trường chưa xuất hiện các thương hiệu tương tự để so sánh, phân tích.

Phương pháp tiếp cận theo thu nhập nhắm đến việc đo lường lợi ích kinh tế của thương hiệu trong việc tạo ra một khoản lợi nhuận hay dòng tiền phát sinh trong tương lai. Theo đó, những mặt hàng mang thương hiệu có thể tạo ra một mức giá bán có lợi hơn trong sự so sánh với mặt hàng tương tự - những sản phẩm được hiểu là không tốt bằng. Dù có nhiều ưu điểm, nhưng đây lại là một phương pháp khó, phức tạp, vì cần phải có nhiều thông số.

Thời gian qua, tại Việt Nam, nhu cầu định giá thương hiệu đã và đang hình thành, và đã xuất hiện một số đơn vị làm dịch vụ đánh giá, định giá thương hiệu cho doanh nghiệp. Nhưng các chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng để vận dụng việc định giá thương hiệu vào Việt Nam, cần phải có các cuộc nghiên cứu nghiêm túc.

Để thương hiệu trở thành giá trị của doanh nghiệp, cần phải có cơ sở pháp lý. Bộ Tài chính đã cấp chứng chỉ cho một số cơ quan xác định giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp, nhưng vẫn còn khúc mắc pháp lý chưa thể vượt qua được. Dẫu Luật Sở hữu trí tuệ có quy định việc góp vốn bằng sáng chế, thì phần giá trị thương hiệu vẫn chưa được quy định.

Theo các chuyên gia, thương hiệu là một phần tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Điều này đã được minh chứng ở các quốc gia khác, khi tài sản thương hiệu vượt qua tài sản vật chất của nhiều doanh nghiệp. Vì thế, các chuyên gia đề nghị Nhà nước cần sớm đưa ra các cơ sở pháp lý cho việc xác định phần tài sản vô hình quan trọng này. Đối với doanh nghiệp, cần phải nhanh chóng tìm hiểu về giá trị thương hiệu của mình và quản trị thương hiệu một cách hiệu quả.



Để có thêm thông tin cách tốt nhất bạn nên liên hệ trực tiếp tới Topiclaw