Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013

Mua bán nhượng quyền thương hiệu tại Việt Nam


Có mặt tại Việt Nam từ những năm 90 nhưng hình thức nhượng quyền thương hiệu (franchise) vẫn còn khá mới mẻ. Khi Việt Nam chính thức là thành viên WTO, hoạt động franc mới thực sự nở rộ

Việt Nam chính thức mở cửa thị trường bán lẻ từ ngày 1/1/2009. Bên cạnh sự có mặt của một số tập đoàn bán lẻ nước ngoài, các công ty về nhượng quyền thương hiệu cũng bắt đầu xâm nhập. Tuy nhiên, các hợp đồng fanchise tại Việt Nam còn khiêm tốn trong khi thị trường được đánh giá là rất nhiều tiềm năng.

Cũ người mới ta
Chưa bao giờ có nhiều thương hiệu nổi tiếng thế giới xuất hiện nhiều tại Việt Nam như hiện nay như MCDonald, Lotteria, Goloria Jeans Coffees, Lee’s Sandwiches, Jollibee, KFC… Nhiều thương hiệu khá thành công, số lượng cửa hàng tăng lên nhanh chóng. KFC là một ví dụ, nếu như đầu năm 2007 KFC chỉ có khoảng 20 cửa hàng trên cả nước thì đến nay đã lên đến 55 cửa hàng.

Theo phân tích của Luật sư Hồ Hữu Hoành, Giám đốc Trung tâm thông tin nhượng quyền thương mại Việt Franchise, nếu các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam thì sẽ mất thời gian và kinh phí cho việc tìm hiểu và xây dựng hệ thống phân phối. Ngoài ra, họ còn vấp phải trở ngại trong quy định của Việt Nam đối với đơn vị bán lẻ 100% vốn nước ngoài (nếu mở của hàng thứ hai tại Việt Nam sẽ phải xin giấy phép mới).

Vì vậy, các đơn vị nước ngoài tìm cách liên kết doanh nghiệp trong nước để nhượng quyền kinh doanh thương hiệu. Lợi thế của những doanh nghiệp trong nước là sự am hiểu thị hiếu người tiêu dùng, luật pháp… Với kinh phí trung bình khoảng 300.000 - 500.000 USD là có thể trở thành một đơn vị nhượng quyền thứ cấp cho một thương hiệu nổi tiếng thế giới. Luật Nhượng quyền thương hiệu mới của Việt Nam cho phép sử dụng luật pháp nước ngoài để điều chỉnh quan hệ nhượng quyền thương hiệu, trong khuôn khổ quy định của pháp luật.

Franchise tại Việt Nam sẽ sôi động

Trong một hội thảo gần đây tổ chức tại TP HCM, ông William Edwards, Giám đốc công ty CEO, Edwads Global Services (Hoa Kỳ), cho biết, kinh nghiệm các thương hiệu lớn (chiếm 70% - 80% ở Mỹ) cho thấy, khi thực hiện việc nhượng quyền, họ đã tính đến mức độ khả quan của thị trường. Hàng trăm thương hiệu đã franchise tồn tại và thành công ở thị trường Châu Á (thị trường kinh doanh thương hiệu có doanh thu hơn 50 tỷ USD mỗi năm). Ông Edwards chia sẻ thêm, những doanh nghiệp không có đủ khả năng, tiềm lực tài chính để mở rộng chuỗi phân phối trên phạm vi rộng thì franchise là một giải pháp rất hữu hiệu.

Hiện có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài muốn nhượng quyền cho doanh nghiệp trong nước. Theo họ, thời điểm này rất dễ chọn những địa điểm đẹp tại các thành phố lớn với giá cả phải chăng (trong franchise, địa điểm là yếu tố quyết định 50% cơ hội thành công). Theo ông Hoành, đây là sự đón đầu của các doanh nghiệp ngoại. Qua được giai đoạn khủng hoảng tài chính thì thị trường franchise tại Việt Nam sẽ rất sức sôi động.

Ông Albert Kong, Chủ tịch Công ty Asiawide Franchise, cho rằng, thị trường franchise tại Việt Nam còn sơ khai, chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng mạnh, dân số đông...Vì vậy tiềm năng của thị trường này vẫn rất lớn. Thời gian tới sẽ có nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đổ bộ vào Việt Nam bằng con đường franchise. Theo ông Kong, kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn khó khăn nhưng đó cũng là cơ hội, vấn đề nằm ở chỗ ai là người biết nắm thời cơ và có điều kiện để biến cơ hội thành hiện thực.

Hiện Asiawide Franchise đang tư vấn cho một số công ty trong nước như: Mỹ phẩm Sài Gòn, Công ty CP Thực phẩm nông sản xuất khẩu Sài Gòn (Agrex Sài Gòn), Vissan... phát triển franchise trong nước, sau đó sẽ tiến ra thị trường khu vực. Ngoài ra, thông qua  Asiawide Franchise, nhiều doanh nghiệp từ Singapore, Malaysia, Trung Quốc... muốn mở rộng thị trường tại Việt Nam bằng franchise.

Ông Ngô Dương Hoàng Thao, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Nhượng quyền thương hiệu Việt Nam, cũng cho rằng, thị trường franchise Việt Nam giàu tiềm năng nhưng chưa được khai phá.  Trong “bánh xe” thị phần về franchise thì ngành thực phẩm chiếm hơn 20%, những ngành khác chỉ khoảng 10%.

Điều 284, Luật Thương mại: Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.

Định giá thương hiệu trong mua bán và sáp nhập công ty


Hiện nay, Mua bán - Sáp nhập (M&A) giữa các công ty tại Việt Nam đang có xu hướng phát triễn thành một trào lưu. Trong các thương vụ mua bán - Sáp nhập hoặc mưu đồ mua bán - sát nhập của chủ doanh nghiệp hay nhà đầu tư, quá trình xác định và chứng minh giá trị tài sản vô hình


Mỗi thương hiệu có những nhóm cộng đồng, khách hàng mục tiêu khác nhau và thương hiệu được đánh giá bằng chính sự ghi nhận của các nhóm công chúng, khách hàng này. Nếu một thương hiệu không có một lượng công chúng, khách hàng mục tiêu thân quen thì thương hiệu đó chỉ là những cái tên thông thường. Chính nhóm khách hàng này sẽ xác định, định giá thương hiệu.

Khi cần một căn cứ xác đáng cho giá trị của thương hiệu, sự làm chứng của các nhóm “fan” mục tiều là quan trọng nhất. Người chủ muốn bán cũng sẽ có những chứng cứ là sự ghi nhận được lượng hóa, số hóa từ phía thị trường, từ các nhóm công chúng, khách hàng mục tiêu và người mua cũng có được niềm tin về giá trị của thương hiệu mà mình mua.

Mô hình mua bán và sáp nhập tại đối với những doanh nghiệp bán đi, đều được tham vấn thực hiện một số hành động cụ thể:

Chuẩn bị các căn cứ pháp lý cho thương hiệu

Doanh nghiệp cần chuẩn bị các chứng thực pháp lý rõ ràng về quyền sở hữu tài sản thương hiệu của mình, tránh những rắc rối tranh chấp có thể nảy sinh khi chủ nhân mới tiếp quản. Thêm nửa, khi một doanh nghiệp được chuẩn bị đẩy đủ các yếu tố pháp lý cho thương hiệu mà họ sở hữu, cũng là một minh chứng cho việc ý thức và đầu tư nghiêm túc cho thương hiệu, có lợi thế hơn trong việc đàm phán mức giá.

Quy hoạch lại thương hiệu đúng với vai trò là tài một tài sản, có chức năng quản lý

Thương hiệu có chức năng quản lý, nó giúp cho chủ doanh nghiệp quản lý các sản phẩm, dịch vụ xuất hiện với hình ảnh đồng nhất trên thương trường. Và ngược lại, chính sự xuất hiện với hình ảnh thống nhất tạo nên sự thân quen trong tâm trí khách hàng. Doanh nghiệp cần thống nhất lại các quy chế quản lý nhãn hiệu, quản lý sự xuất hiện thống nhất đó.

Nghiên cứu và tìm kiếm cộng đồng làm chứng

Điều này là quan trọng nhất. Như đã phân tích ở trên, thương hiệu cần có được sự ghi nhận từ phía công chúng, khách hàng mục tiêu. Doanh nghiệp cần đo lường những hành vi và thái độ của người tiêu dùng có tác động đến hiệu quả kinh tế của thương hiệu. Trong hoạt động này, có thể sử dụng nhiều dấu hiệu khác nhau về cảm nhận của người tiêu dùng như mức độ nhận biết/ hiểu rõ/ quen thuộc về sản phẩm, những đặc trưng hình ảnh cụ thể, những yếu tố cân nhắc khi mua sắm, sở thích, mức độ thỏa mãn và giới thiệu với người khác. Bằng phân tích thống kê, các mô hình sẽ đánh giá tác động tổng hợp đối với hành vi mua sắm của người tiêu dùng, từ đó ước tính giá trị tài chính của thương hiệu và là căn cứ khá mạnh mẽ để chứng minh giá trị thương hiệu.

Xác định quá trình của thương hiệu và lộ trình phát triển

Mỗi một thương hiệu đều có đời sống riêng và thương hiệu là một sự đầu tư cho tương lai. Doanh nghiệp cần một bản mô tả về lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của nó, cũng như một chiến lược phát triễn dài hạn cho thương hiệu. Đây chính là minh chứng cho quá trình đã đầu tư nghiêm túc và dài hạn cho thương hiệu, cho một lộ trình tương lai và những lợi ích kinh tế mà củ mới sẻ được hưởng.

Lượng hóa các giá trị đã đầu tư và giá trị mang lại.

Giá trị thương hiệu cũng có xét đến một phần tổng hợp của tất cả những chi phí đã gánh chịu trong quá khứ, hay chi phí thay thế cần có để đưa thương hiệu đến trạng thái hiện tại ; tức là tổng của những chi phí phát triển, tiếp thị, quảng cáo, truyền thông... Tuy nhiên, tổng mức đầu tư này cần tính toán tương quan đến các chỉ số khác như giá chênh lệch (giữa sản phẩm/dịch vụ có thương hiệu và sản phẩm/dịch vụ không có thương hiệu), sức mạnh và sự rủi ro của thương hiệu...

Xác định giá trị là một vấn đề, còn chứng minh cho giá trị đó lại là một vấn đề khác. Trong làn sóng M&A hiện nay, tài sản thương hiệu cũng là một tài sản quan trọng và phải được số hóa thành tiền. Chúng tôi hy vọng, với những cách thức để chuẩn bị chứng minh cho giá trị thương hiệu này sẽ có ích cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kế hoạch M&A của mình.

Tài sản sở hữu trí tuệ có thể giúp cấp vốn kinh doanh như thế nào?


Các tài sản sở hữu trí tuệ có thể giúp bạn củng cố điều kiện cho việc giành vốn từ các nhà đầu tư.

Để chấp thuận một đánh giá về thỉnh cầu trợ giúp vốn hay các khoản vay, nhà đầu tư (là một ngân hàng, một quỹ của chính phủ, một tư bản đầu cơ hay một nhà xuất vốn kinh doanh) sẽ xem xét sản phẩm hay dịch vụ của công ty bạn đưa ra có một tiềm lực thị trường thực sự hay không. Trong việc quyết định một doanh nghiệp hay một kế hoạch xuất khẩu họ sẽ tìm kiếm các bằng chứng: Công nghệ đó chưa được đưa ra thị trường (hay ít nhất ở một mức giá thấp hơn); Có thể có nhu cầu cho sản phẩm đó và bạn sẽ không mắc phải những khó khăn chính (luật hay vấn đề nào khác) làm cản trở việc bạn có thể thương mại hóa sản phẩm của mình.

Đưa ra một chiến lược tài sản sở hữu trí tuệ vững chắc với các tài liệu chứng minh về việc áp dụng các quyền sở hữu trí tuệ, thông tin về việc tìm kiếm bằng sáng chế chứng tỏ công nghệ của bạn không thể xâm phạm bằng sáng chế của các đối thủ cạnh tranh và (giấy phép) các hợp đồng với những người sở hữu bằng sáng chế ủy quyền cho bạn sử dụng công nghệ cần thiết để thương mại hóa một sản phẩm cũng sẽ được yêu cầu bảo đảm đầu tư vốn trước các nhà tư bản đầu cơ. Sự sở hữu các quyền sở hữu trí tuệ đối với công suất sáng tạo hay những đổi mới liên quan đến dịch vụ hay các sản phẩm mà một doanh nghiệp định quảng bá bảo đảm một mức độ độc quyền nhất định và do đó cũng đảm bảo một mức thị phần cao nếu sản phẩm hay dịch vụ chứng minh cho các khách hàng thấy được sự thành công của nó.

Vì thế, sự sở hữu tài sản sở hữu trí tuệ đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết phục các nhà đầu tư hay các nhà cho vay tạo điều kiện cho doanh nghiệp đó thương mại hóa các sản phẩm hay dịch vụ đưa ra. Trong nhiều trường hợp, một bằng sáng chế có giá trị đơn có thể mở ra nhiều cánh cửa cơ hội về tài chính.

Các nhà đầu tư hay các nhà cho vay khác nhau có thể đánh giá tài sản sở hữu trí tuệ của bạn theo các cách khác nhau và có thể xem xét mức độ quan trọng đối với các quyền sở hữu tài sản trí tuệ khác nhau. Tuy nhiên một xu hướng rõ ràng đang được phát triển hướng tới mức độ tin tưởng lớn hơn đối với các tài sản quyền sở hữu trí tuệ như một nguồn lợi thế cạnh tranh cho các công ty. Vì thế, các nhà đầu tư và các nhà cho vay sẽ ngày càng tập trung vào các công ty với một danh mục quyền sở hữu trí tuệ được quản lý tốt mặc dù thực tế họ có thể gặp phải những vấn đề mới thậm chí ở các nước phát triển trong khi cố gắng đảm bảo tốt các quyền lợi an toàn trong tài sản sở hữu trí tuệ.

Câu chuyện định giá thương hiệu


Những câu chuyện mua bán, khiếu kiện liên quan đến thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước thường chỉ được nhắc đến trong những lúc trà dư tửu hậu, chưa trở thành những bài học kinh nghiệm.

Việc định giá thương hiệu, để thương hiệu trở thành tài sản của doanh nghiệp, vẫn đang chờ một cơ sở pháp lý.

Những câu chuyện cũ

Cách đây nhiều năm, việc hãng Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S với giá 5 triệu Đô la Mỹ và Colgate mua Dạ Lan với giá 3 triệu Đô la đã gây xôn xao dư luận. Năm 1999, chủ nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre, bà Hai Tỏ, đã phải lặn lội sang Trung Quốc khiếu kiện một doanh nghiệp xứ này lấy thương hiệu của mình để đăng ký bảo hộ cho sản phẩm kẹo dừa xuất khẩu. Năm 2001, Công ty Cà phê Trung Nguyên đã phải chi một khoản tiền không nhỏ để lấy lại thương hiệu do một Việt kiều ở Mỹ đã đăng ký nhãn hiệu này trước đó.

Những câu chuyện trên vẫn chưa thể gợi ra những mối quan tâm về thương hiệu từ phía cơ quan quản lý trong thời gian gần đây. Một số doanh nghiệp xin góp vốn bằng thương hiệu, nhưng đã bị Bộ Tài chính từ chối, bởi chuẩn mực kế toán 04 của bộ ban hành không cho phép việc này. Ngay cả khi làn sóng cổ phần hóa doanh nghiệp làm xuất hiện sự lúng túng về việc xác định giá trị thương hiệu cấu thành tài sản doanh nghiệp, thì vẫn chưa có một cơ quan nào đứng ra lo liệu.

Câu chuyện về giá trị thương hiệu chỉ thực sự gây sự chú ý khi Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin làm bùng lên làn sóng góp vốn bằng thương hiệu. Và cũng chính từ đề xuất của Vinashin, Bộ Tài chính mới đưa ra dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu để lấy ý kiến.

Trong lần trao đổi với TBKTSG trước đây, một thành viên trong Hội đồng Thương hiệu Quốc gia cho rằng nhờ ký được những hợp đồng đóng tàu có giá trị lớn, làm tăng giá trị thương hiệu, nên Vinashin đã được phép góp vốn bằng thương hiệu với các liên doanh nước ngoài, sau khi đã áp dụng thử nghiệm tại nhiều doanh nghiệp trong nước.

Thế nhưng việc thử nghiệm góp 30% vốn bằng thương hiệu với 103 doanh nghiệp trong nước, trong đó có nhiều doanh nghiệp nằm ngoài Vinashin, đã nhanh chóng phá sản khi con tàu Vinashin bị “mắc cạn”, kéo theo những hệ lụy không đáng có.

Việc góp vốn trên, theo các chuyên gia, không hề dựa trên một cơ sở khoa học, hay một sự định giá khả dĩ nào, mà chỉ là cảm tính, kỳ vọng. Những sự kỳ vọng trước đây về thương hiệu Vinashin nay lại trở thành gánh nặng cho các doanh nghiệp liên doanh, khiến nhiều doanh nghiệp muốn thoát khỏi thương hiệu này. Lý do là ở chỗ, cái tên đó hiện đang là trở ngại đối với doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng.

Và dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu, tiếng là “đã hoàn tất” việc lấy ý kiến, nhưng thực chất đã bị gác lại, một chuyên gia cho biết.

Cần một khung pháp lý

Theo các chuyên gia, việc xác định giá trị thương hiệu hiện nay có ba cách tiếp cận cơ bản: theo chi phí, theo thu nhập, và theo thị trường.

Tiếp cận theo chi phí là dựa trên sự tích lũy những chi phí trong việc xây dựng thương hiệu kể từ khi bắt đầu, như chi phí quảng cáo, xúc tiến, các chiến dịch sáng tạo, những khoản lệ phí, chi phí đăng ký nhãn hiệu. Thế nhưng việc xác định thương hiệu bằng cách này không phản ánh được khả năng sinh lời của thương hiệu trong tương lai, vì thế bất đắc dĩ mới sử dụng phương pháp này trong việc Định giá thương hiệu.

Cách tiếp cận theo thị trường là ước lượng giá trị thương hiệu qua việc xem xét những hoạt động mua bán trên thị trường liên quan đến những thương hiệu tương tự. Nhưng việc áp dụng phương pháp này ở Việt Nam, theo các chuyên gia, hiện chưa thể được, vì thị trường chưa xuất hiện các thương hiệu tương tự để so sánh, phân tích.

Phương pháp tiếp cận theo thu nhập nhắm đến việc đo lường lợi ích kinh tế của thương hiệu trong việc tạo ra một khoản lợi nhuận hay dòng tiền phát sinh trong tương lai. Theo đó, những mặt hàng mang thương hiệu có thể tạo ra một mức giá bán có lợi hơn trong sự so sánh với mặt hàng tương tự - những sản phẩm được hiểu là không tốt bằng. Dù có nhiều ưu điểm, nhưng đây lại là một phương pháp khó, phức tạp, vì cần phải có nhiều thông số.

Thời gian qua, tại Việt Nam, nhu cầu định giá thương hiệu đã và đang hình thành, và đã xuất hiện một số đơn vị làm dịch vụ đánh giá, định giá thương hiệu cho doanh nghiệp. Nhưng các chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng để vận dụng việc định giá thương hiệu vào Việt Nam, cần phải có các cuộc nghiên cứu nghiêm túc.

Để thương hiệu trở thành giá trị của doanh nghiệp, cần phải có cơ sở pháp lý. Bộ Tài chính đã cấp chứng chỉ cho một số cơ quan xác định giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp, nhưng vẫn còn khúc mắc pháp lý chưa thể vượt qua được. Dẫu Luật Sở hữu trí tuệ có quy định việc góp vốn bằng sáng chế, thì phần giá trị thương hiệu vẫn chưa được quy định.

Theo các chuyên gia, thương hiệu là một phần tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Điều này đã được minh chứng ở các quốc gia khác, khi tài sản thương hiệu vượt qua tài sản vật chất của nhiều doanh nghiệp. Vì thế, các chuyên gia đề nghị Nhà nước cần sớm đưa ra các cơ sở pháp lý cho việc xác định phần tài sản vô hình quan trọng này. Đối với doanh nghiệp, cần phải nhanh chóng tìm hiểu về giá trị thương hiệu của mình và quản trị thương hiệu một cách hiệu quả.

Dịch vụ tư vấn định giá thương hiệu


Định giá thương hiệu là nhằm mục đích giúp các doanh nghiệp xác định giá trị thị trường của thương hiệu để phục vụ cho các hoạt động quan trọng khác của doanh nghiệp.



Tư vấn xác định giá trị thương hiệu của doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá;

Tư vấn xác định giá trị thương hiệu trong hoạt động chia tách doanh nghiệp;

Tư vấn xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ khi góp vốn kinh doanh bằng tài sản thương hiệu;

Tư vấn xác định giá trị trong việc chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng thương hiệu cho doanh nghiệp khác;

Xác định giá trị thương hiệu trong các vụ tranh chấp thương hiệu;

Hỗ trợ xác định giá trị thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán;

Xây dựng chiến lược phát triển và quản trị thương hiệu;

Tư vấn khách hàng tham gia các giải thưởng thương hiệu.

Giá trị thương hiệu: Ai quyết định và quyết định như thế nào?


Phần 1: Giới thiệu: Trong một chuyến đi trượt tuyết gần đây, một người bạn nói với tôi rằng anh ấy nghĩ marketing là một nghề nghiệp chẳng mấy hay ho. Rõ ràng, tất cả những gì chúng ta cố gắng làm là khiến mọi người không hài lòng với tình hình hiện tại của họ, và anh ấy cho rằng điều đó thật chẳng tốt đẹp gì.

Điều này khiến tôi nghi, liệu chúng ta có thật sự là những con nhiều nhiều mánh khoé, tồi tệ như thế? Tôi cho rằng sự chán nản của anh bạn tôi đang lấn át phần lạc quan trong anh ta. Nói cách khác, anh ấy đang có một cái nhìn tiêu cực về những gì xảy ra giữa một doanh nghiệp và một khách hàng trong tình hình marketing hiện tại.

Cuối cùng, tôi nhận ra rằng mỗi cá nhân trên thị trường đều thực sự muốn xây dựng mối quan hệ với doanh nghiệp, kể cả khi họ chỉ mua sắm những đồ vặt vãnh. Mối quan hệ đó được tạo dựng với khái niệm mà chúng ta gọi là thương hiệu, và những cá nhân khác nhau sẽ phát triển loại quan hệ khác nhau với thương hiệu. Trong tiềm thức, thị trường đánh giá giá trị thương hiệu đối với họ, và họ sẽ phát triển những quan niệm về mọi thứ mà họ được trải nghiệm với thương hiệu đó.

Xây dựng thương hiệu là đảm bảo rằng đội ngũ nhân viên của bạn tạo ra được một trải nghiệm tích cực, được hỗ trợ bằng quy trình và công nghệ chất lượng, rồi sau đó đo lường kết quả – hãy nhớ bất cứ thứ gì được đánh giá, đo lường sẽ mang được cải thiện trong những lần tiếp theo. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu rằng loại trải nghiệm thương hiệu nhất quán này sẽ mang lại kết quả tốt, nhưng bạn không thể quyết định một trải nghiệm bao gồm những gì mà thị trường mới quyết định điều đó.

Ở đây chúng ta không quan tâm đến việc sắp đặt thương hiệu, điều chúng ta muốn làm là xác định doanh nghiệp có thể đo lường cách thức thị trường nắm bắt trải nghiệm thương hiệu như thế nào. Tất cả những gì bạn phải làm là mang thương hiệu của mình ra bên ngoài và thị trường xác nhận “Tôi tin những điều anh nói về bản thân” cùng với thương hiệu. Nếu không, mọi thứ chỉ là giả thiết và kết quả là bạn chỉ thu được lợi ích tối thiểu.

Chúng ta có thể so sánh khái niệm tạo dựng mối quan hệ sâu sắc hoặc mờ nhạt giữa một cá nhân và thương hiệu với bậc thang nhu cầu của Maslow. Khi chúng ta bước lên những bậc cao hơn, mối quan hệ vững chắc hơn sẽ được thiết lập nhờ sự yêu thích phát sinh. Đó là sự yêu thích đối với thương hiệu bắt nguồn từ những trải nghiệm mà người đó tạo ra trong tâm trí họ.

Bản chất thương hiệu mới chỉ là một phần nhỏ của phương trình. Bạn thật sự cần phải hiểu được thương hiệu của mình được cảm nhận như thế nào và giải quyết bất cứ khác biệt nào giữa hai hình ảnh này. Nếu một người kỳ vọng nhận được thêm nhiều giá trị hơn những gì mà thương hiệu thực sự mang đến, khả năng họ cảm thấy thất vọng với quyết định mua sắm và ghi nhớ một trải nghiệm tiêu cực là rất cao. Rõ ràng, không một công ty nào mong đợi kết quả này cả.

Các nấc thấp hơn của bậc thang nhu cầu cho phép chúng ta đo lường tác động của thông điệp mà sử dụng các cộng cụ đo lường truyền thông điển hình như số lượng tiếp cận và kiểm tra mức độ nhận biết. Những phương pháp này thể hiện khả năng đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra, và nên được sử dụng như là công cụ để đạt được sự đồng bộ trong tâm trí khách hàng trên thị trường. Khi chúng ta cố gắng bước lên cao hơn trong bậc thang nhu cầu, chúng ta bắt đầu chú trọng hơn tới những điều mà khách hàng tin tưởng, so với cảm nhận của những người không phải là khách hàng.

Bởi vì giờ đây chúng ta đang đánh giá thái độ của thị trường, yếu tố chính chi phối  mọi tài liệu truyền thông marketing hoặc sự chuyển dịch trong chiến lược marketing nên là phản hồi cho những dấu hiệu vững chắc thu được từ việc đánh giá giá trị mà thị trường đặt ra cho thương hiệu. Những thông tin này là chiếc ván trượt cần thiết để trả lời lại thái độ của thị trường. Nếu chúng ta hiểu và tác động lên thái độ, chúng ta có thể thay đổi thành công hành vi của khách hàng.

Đo lường giá trị mà thị trường định ra cho thương hiệu không phải là một khái niệm mới, những lợi ích của việc Phân tích và Quản lý Giá trị Khách hàng đã được nhắc đến trong nhiều tài liệu khác nhau.

Phần 2: Quản lý Giá trị Khách hàng
Vậy Lý thuyết Quản lý Giá trị Khách hàng hoạt động như thế nào?
Mỗi người trên thị trường hình thành một thái độ về mỗi công ty thông qua những trải nghiệm hoặc thông điệp từ công ty ấy. Thái độ này dựa trên phương trình giữa hai tham số: giá cả và chất lượng. Để tìm hiểu đánh giá về giá cả trong tâm trí khách hàng tương đối dễ dàng, tuy nhiên, chất lượng lại dựa trên một số đặc tính sản phẩm và dịch vụ khách hàng. Và yếu tố này có tính chủ quan cao hơn nhiều. Sự kết hợp tất các các yếu tố trên sẽ quyết định thái độ của thị trường đối với mỗi thương hiệu.

Chúng ta cần thị trường xác định đặc tính nào là quan trọng cho giá cả và chất lượng sản phẩm/dịch vụ rồi sau đó lấy đó làm tiêu chí đánh giá thương hiệu của mình cũng như các thương hiệu cạnh tranh. Về cơ bản, tại điểm này chúng ta đang khám phá những yếu tố chi phối sự yêu thích của khách hàng và hành vi mua sắm, mà trong đó có thái độ. Sau đó, chúng ta sẽ có thống kê đánh giá cho từng công ty trên thị trường từ các những khách hàng hiện tại lẫn những người không phải khách hàng. Lợi ích thực sự ở đây là chỉ có doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu mới có thông tin này, và từ đó thấu hiểu thị trường.

Bằng cạnh xếp giá trị cảm nhận với giá trị thực tế cạnh nhau, chúng ta có thể quyết định bất cứ chiến lược hiệu quả nào có thể giúp giải quyết khoảng cách giữa hai giá trị và xây dựng mối quan hệ vững chắc, trung thành với toàn thị trường.

Chúng ta có một hướng tiếp cận mà sẽ cho phép ta thu được kết quả của các tài liệu truyền thông marketing chiến thuật, và dễ dàng hình thành một quan điểm hợp lý về cách giải quyết chiến lược với bất cứ vấn đề thiếu đồng bộ trong cảm nhận nào.

Nếu cần thay đổi, chúng ta sẽ phải điều chỉnh một trong hai điều sau:
- Nếu có sự chênh lệch giữa giá trị cảm nhận và giá trị thực tế, chúng ta cần phải điều chỉnh truyền thông marketing.
- Nếu giá trị thực tế và giá trị cảm nhận gần nhau, nhưng chúng lại cách xa đường cân bằng giá trị, chúng ta cần phải điều chỉnh lại các công cụ marketing hỗn hợp.

Cuối cùng, chúng ta có thể khám phá thành tố nào đang hoạt động và quan trọng hơn, yếu tố nào không. Kết quả là chúng ta có thể gia tăng hiệu quả của ngân sách marketing thông qua việc hiểu được cách thức thị trường quyết định đâu là giá trị tốt nhất cũng như phản ứng lại sự đánh giá đó. Khái niệm “Giá trị thực tế” này cho phép bạn thực sự đo lường được tác động của việc quảng cáo thương hiệu và giảm thiểu tình trạng lãng phí ngân sách marketing.

Tất cả mọi người trên thị trường đều muốn xây dựng mối quan hệ với doanh nghiệp ở một mức độ nào đó, vậy ai là người đang thao túng thị trường? Hãy nghĩ theo cách này, một con dao có thể dùng để lấy một mạng sống nhưng cũng có thể cứu một mạng sống, điều đó phụ thuộc vào người sử dụng. Mọi doanh nghiệp đều chạy đua với nhau để kiếm lời từ khách hàng, vậy tác hại của việc khám phá những thứ khách hàng thực sự muốn và trao nó cho khách hàng một cách hữu ích?

Định giá thương hiệu: Ba vòng tròn quyền năng

Khi tiến hành định giá thương hiệu, các phương pháp đơn giản nhất thường hiệu quả nhất – ma trận BCG, phân tích SWOT, biểu đồ cơ cấu.

Các mô hình này hiệu quả bởi chúng “chưng cất” hàng tấn thông tin, đồng thời nhận diện đâu là thông tin quan trọng và dễ dàng thu thập.

Mô hình yêu thích của chúng tôi nhằm xác định điểm mạnh và điểm yếu thương hiệu – mô hình 3 vòng tròn – cũng cực kỳ đơn giản. Mô hình này chỉ liên quan đến ba vòng tròn lồng vào nhau đại diện cho thương hiệu, khách hàng và đối thủ cạnh tranh. Nối những chỗ giao cắt giữa mong muốn khách hàng, khả năng thương hiệu và điểm mạnh cạnh tranh cho phép các chiến lược gia phân loại và ưu tiên các loại “giá trị” khác nhau.

Tại sao nó hiệu quả?

Phân tích ba vòng tròn hiệu quả theo ba cách:

1. Có cái nhìn bao quát hơn cho những điểm khác biệt tiềm năng

Phân tích thương hiệu điển hình chú trọng các điểm khác biệt như là các nguồn lực tạo lợi thế cạnh tranh tiềm năng. Cùng với việc xác định các điểm khác biệt, phân tích 3 vòng tròn nhấn mạnh các điểm tương đồng có tiềm năng phát triển cũng như nhu cầu chưa giải quyết của khách hàng. Nếu những điểm này quan trọng với khách hàng và chưa có ai nhắc đến chúng mà thương hiệu của bạn có thể đề cập hoặc thực hiện chúng một cách độc đáo, chúng có thể trở nên phù hợp và có tiềm năng trở thành “điểm khác biệt”. Vô số thương hiệu đã đạt được thành công này bằng cách chú trọng vào lợi ích nhóm ngành (Raid diệt mối rận, Lysol diệt 99.9% vi khuẩn) hoặc tạo ra điểm khác biệt không thuộc phạm trù sản phẩm (Bánh quy Keebler là loại bánh duy nhất do những chú yêu tinh cây làm ra, hay một chú tắc kè đảm bảo các thượng khách của Geico sẽ tiết kiệm tiền).

2. Đặt nhu cầu khách hàng làm trọng tâm

Mô hình ba vòng tròn cũng là “nơi yên nghỉ cuối cùng” cho khía cạnh “phi giá trị” của thương hiệu – những đặc điểm có thể khác biệt hoá hoặc có vai trò quan trọng trong việc bám đuổi các đối thủ cạnh tranh nhưng lại hoàn toàn không quan trọng với khách hàng. Giờ đây, một siêu thị trung bình bán hơn 38.000 sản phẩm, trong đó rất nhiều loại chỉ là các biến thể khác nhau về mùi vị hoặc kích cỡ. Trong ngành công nghệ, cuộc đua tính năng không hề có dấu hiệu hạ nhiệt. Theo giáo sư trường Đại học Harvard Youngme Moon, “Có một điểm vượt qua khả năng gây ấn tượng của chúng ta,… vượt qua cả những cải tiến không ngừng nhằm gia tăng giá trị.” Tại điểm này, ta cần phải có cái nhìn sâu sắc hơn về thứ mà khách hàng thực sự coi trọng.

3. Có suy nghĩ rõ ràng về khác biệt cạnh tranh

Cuối cùng, mô hình ba vòng tròn giúp doanh nghiệp có một cái nhìn kỹ lưỡng đối với những điểm dễ tổn thương tiềm năng. Vùng đất cạnh tranh rất năng động, điều đó có nghĩa những lợi thế của hôm nay có thể trở nên lạc hậu trong khoảnh khắc. Vì thế, các thương hiệu cần phải để mắt đến những điểm khác biệt hoá của đối thủ cạnh tranh cũng như của chính bản thân họ để không bị rơi vào hoàn cảnh giống như Kodak hay Blockbuster, bị đánh bại bởi những công ty có trực quan nhạy bén hơn đối với những thứ khách hàng thực sự mong muốn.

Đưa mô hình vào thử nghiệm

Giáo sư marketing Joe Urbany và nguyên giáo sư James H.David của Đại học Notre Dame Mendoza, là người đã phát triển mô hình ba vòng tròn. Nó là nền tảng của chương trình MBA marketing tại Mendoza hơn 10 năm qua. Sơ đồ kết quả trông có vẻ đơn giản, nhưng nó đòi hỏi hàng giờ đào sâu nghiên cứu, thảo luận và tranh cãi.

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Quyền tạm thời đối với thiết kế bố trí


a) Đối với thiết kế bố trí đã được người có quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác thương mại trước ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn,

nếu người có quyền đăng ký biết rằng thiết kế bố trí đó đang được người khác sử dụng nhằm mục đích thương mại thì người đó có quyền thông báo bằng văn bản về quyền đăng ký của mình đối với thiết kế bố trí đó cho người sử dụng để người đó chấm dứt việc sử dụng thiết kế bố trí hoặc tiếp tục sử dụng.

b) Trong trường hợp đã được thông báo mà người được thông báo vẫn tiếp tục sử dụng thiết kế bố trí thì khi Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được cấp, chủ sở hữu thiết kế bố trí có quyền yêu cầu người đã sử dụng thiết kế bố trí phải trả một khoản tiền đền bù tương đương với giá chuyển giao quyền sử dụng thiết kế bố trí đó trong phạm vi và thời hạn sử dụng tương ứng.


Tính mới thương mại của thiết kế bố trí


a) Thiết kế bố trí được coi là có tính mới thương mại nếu chưa được khai thác thương mại tại bất kỳ nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng ký.

b) Thiết kế bố trí không bị coi là mất tính mới thương mại nếu đơn đăng ký thiết kế bố trí được nộp trong thời hạn hai năm kể từ ngày thiết kế bố trí đó đã được người có quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác nhằm mục đích thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới.

c) Khai thác thiết kế bố trí nhằm mục đích thương mại quy định tại khoản b phần này là hành vi phân phối công khai nhằm mục đích thương mại đối với mạch tích hợp bán dẫn được sản xuất theo thiết kế bố trí hoặc hàng hoá chứa mạch tích hợp bán dẫn đó.

Thủ tục đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn


Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, để được bảo hộ, đối tượng này cần tiến hành thủ tục đăng ký tại Cục Sở Hữu Trí Tuệ, Việt Tín xin giới thiệu trình tự thủ tục đăng ký như sau:

1. Các bước đăng ký
Bước 1: Tiếp nhận đơn: Người nộp đơn có thể thông qua đại diện sở hữu trí tuệ hoặc có thể nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện tới trụ sở Cục Sở hữu trí tuệ tại Hà Nội hoặc 2 Văn phòng đại diện của Cục tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Bước 2: Thẩm định hình thức đơn: Kiểm tra việc tuân thủ các quy định về hình thức đối với đơn, từ đó đưa ra kết luận đơn có được coi là hợp lệ hay không.
Bước 3: Ra thông báo chấp nhận/từ chối chấp nhận đơn hợp lệ: Trong trường hợp đơn đáp ứng các yêu cầu của đơn hợp lệ, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ gửi cho người nộp đơn thông báo chấp nhận đơn, đồng thời nêu rõ đối tượng nêu trong đơn có khả năng được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí;
Trong trường hợp đơn không hợp lệ, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ gửi cho người nộp đơn Thông báo từ chối chấp nhận đơn
Bước 4: Công bố đơn: Đơn được coi là hợp lệ sẽ được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp
Bước 5: Ra quyết định cấp / từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký

2. Bộ hồ sơ gồm:
Tờ khai ( theo mẫu);
Bộ ảnh chụp hoặc bộ bản vẽ thiết kế bố trí (04 bộ);
Mẫu mạch tích hợp được sản xuất theo thiết kế (04 mẫu);
Bản mô tả mạch tích hợp;
Chứng từ nộp phí, lệ phí.

3. Yêu cầu để được bảo hộ;
Tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện sau có quyền đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp:
- Tác giả tạo ra thiết kế bố trí bằng công sức và chi phí của mình;
- Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác và thoả thuận đó không trái với quy định của pháp luật;
- Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra thiết kế bố trí mạch tích hợp thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký bố trí mạch tích hợp đó chỉ được thực hiện nếu tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý;
- Trường hợp thiết kế bố trí được tạo ra do sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phi từ ngân sách nhà nước:
+ Trường hợp thiết kế bố trí được tạo ra trên cơ sở Nhà nước đầu tư toàn bộ kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật, quyền đăng ký thiết kế bố trí thuộc về Nhà nước. Tổ chức, cơ quan nhà nước được giao quyền chủ đầu tư có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký thiết kế bố trí;

+ Trường hợp thiết kế bố trí được tạo ra trên cơ sở Nhà nước góp vốn (kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật), một phần quyền đăng ký thiết kế bố trí tương ứng với tỷ lệ góp vốn thuộc về Nhà nước. Tổ chức, cơ quan nhà nước là chủ phần vốn đầu tư của Nhà nước có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện phần quyền đăng ký thiết kế bố trí;

+ Trường hợp thiết kế bố trí được tạo ra trên cơ sở hợp tác nghiên cứu - phát triển giữa tổ chức, cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân khác, nếu trong thoả thuận hợp tác nghiên cứu - phát triển không có quy định khác thì một phần quyền đăng ký thiết kế bố trí tương ứng với tỷ lệ đóng góp của tổ chức, cơ quan nhà nước trong việc hợp tác đó, thuộc về Nhà nước. Tổ chức, cơ quan nhà nước tham gia hợp tác nghiên cứu - phát triển có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký thiết kế bố trí.

4. Điều kiện bảo hộ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp:
  • Có tính nguyên gốc;
  • Có tính mới thương mại.

Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp phải có những tài liệu gì


Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp chỉ được tiếp nhận nếu có ít nhất các thông tin tài liệu sau đây:
Tờ khai đăng ký kiểu dáng công nghiệp, làm theo mẫu 03- KDCN

Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp.

Bộ ảnh chụp hoặc bộ bản vẽ kiểu dáng công nghiệp (5)

Chứng từ nộp lệ phí nộp đơn.

Các tài liệu sau đây có thể được nộp sau khi đã nôp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp.

Giấy ủy quyền, nếu nộp đơn thông qua đại diện

Các tài liệu chứng minh cơ sở hưởng quyền ưu tiên ( xác nhận của cơ quan nhận đơn đối với bản sao đơn (các đơn) đầu tiên; giấy chứng nhận quyền ưu tiên nếu quyền đó được hưởng thụ từ người khác);

Tài liệu xác nhận quyền đăng ký hợp pháp ; nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đăng ký của người khác (giấy chứng nhận quyền thừa kế, giấy chứng nhận hoặc văn bản thỏa thuận chuyển giao quyền nộp đơn; hợp đồng giao việc hoặc hợp đồng lao động);

Tài liệu xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp chỉ dẫn thương mại( nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại)… kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ bởi người khác, nếu kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn chứa các đối tượng đó.

Mọi tài liệu của Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp đều phải làm bằng tiếng Việt. Các tài liệu làm bằng ngôn ngữ khác chỉ được dùng làm đối chiếu tham khảo.

Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp


a) Tên kiểu dáng công nghiệp: là tên của chính sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp, được thể hiện bằng các từ ngữ thông dụng, không mang tính chất quảng cáo, không chứa ký hiệu, chú thích, chỉ dẫn thương mại;

b) Lĩnh vực sử dụng kiểu dáng công nghiệp:

Là lĩnh vực sử dụng cụ thể của sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp, trong đó nêu rõ mục đích sử dụng của sản phẩm đó;

c) Kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất:

Nêu rõ kiểu dáng công nghiệp ít khác biệt nhất với kiểu dáng công nghiệp của cùng loại sản phẩm nêu trong đơn, đã được biết đến một cách rộng rãi trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên), trong đó phải chỉ ra nguồn thông tin bộc lộ công khai kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất đó;

d) Liệt kê ảnh chụp hoặc bản vẽ:
Liệt kê lần lượt các ảnh chụp, bản vẽ phối cảnh (ba chiều), hình chiếu, mặt cắt... của kiểu dáng công nghiệp, phù hợp với số thứ tự được ghi của ảnh chụp, bản vẽ;

e) Phần mô tả kiểu dáng công nghiệp phải đáp ứng các quy định sau đây:

(i) Bộc lộ hoàn toàn bản chất của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ, trong đó phải nêu đầy đủ các đặc điểm tạo dáng thể hiện bản chất của kiểu dáng công nghiệp, đồng thời phải chỉ ra các đặc điểm tạo dáng mới, khác biệt so với kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất phù hợp với các đặc điểm tạo dáng được thể hiện trong bộ ảnh chụp, bản vẽ;

(ii) Các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ phải được trình bày lần lượt theo thứ tự: các đặc điểm hình khối, đường nét, tương quan giữa các đặc điểm hình khối và/hoặc đường nét, các đặc điểm màu sắc (nếu có);

(iii) Đối với sản phẩm có các trạng thái sử dụng khác nhau (ví dụ: sản phẩm có nắp hoặc có thể gập lại được...), phải mô tả kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm ở các trạng thái khác nhau;

(iv) Nếu kiểu dáng công nghiệp gồm nhiều phương án thì phải chỉ rõ các đặc điểm khác biệt của những phương án còn lại so với phương án cơ bản (phương án đầu tiên nêu trong đơn);

(v) Nếu kiểu dáng công nghiệp là kiểu dáng của bộ sản phẩm thì phải mô tả kiểu dáng của từng sản phẩm trong bộ đó.

f) Phạm vi bảo hộ kiểu dáng công nghiệp (hoặc “yêu cầu bảo hộ”):

Phải liệt kê đầy đủ các đặc điểm tạo dáng cần và đủ để xác định bản chất kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ và phạm vi quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp, được thể hiện trên ảnh chụp, bản vẽ nêu trong đơn, bao gồm các đặc điểm tạo dáng mới, khác biệt so với kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết.

Quy trình đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp


Quy trình đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp, Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp

Để giúp khách hàng nắm được trình tự đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp,  đưa ra quy trình đăng ký bảo hộ như sau:

1. Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp

Văn bằng bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp được gọi là “ Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp ”. Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 5 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ, và có thể được gia hạn liên tiếp hai (2) lần, mỗi lần là 5 năm.

2. Quyền nộp đơn kiểu dáng công nghiệp

Quyền nộp kiểu dáng công nghiệp, trước hết thuộc về tác giả hoặc người thừa kế hợp pháp của tác giả;
Nếu kiểu dáng công nghiệp được tạo ra khi tác giả thực hiện nhiệm vụ do Tổ chức mà tác giả là thành viên giao cho hoặc được tác giả tạo ra chủ yếu do sử dụng kinh phí, phương tiện vật chất của Tổ chức, thì quyền nộp đơn kiểu dáng công nghiệp đó thuộc về Tổ chức giao việc hoặc Tổ chức cung cấp kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả;

Nếu kiểu dáng công nghiệp được tạo ra do tác giả thực hiện Hợp đồng thuê việc với Tổ chức hoặc cá nhân khác, và trong Hợp đồng không có thoả thuận nào khác, thì quyền nộp đơn kiểu dáng công nghiệp thuộc về Tổ chức hoặc cá nhân đã ký Hợp đồng đó với tác giả.

Người nộp đơn kiểu dáng công nghiệp có thể chuyển giao quyền nộp đơn, kể cả đơn đã nộp, cho cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác thông qua văn bản chuyển giao quyền nộp đơn.

3. Hồ sơ đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp
Bao gồm các tài liệu sau đây:

+ Tờ khai yêu cầu cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp (Tờ khai) được làm theo Mẫu do Cục SHTT ban hành;
+ Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp;
+ Bộ ảnh chụp hoặc bộ ảnh vẽ kiểu dáng công nghiệp;
+ Tài liệu xác nhận quyền nộp đơn hợp pháp, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền nộp đơn của người khác (Giấy chứng nhận quyền thừa kế; Giấy chứng nhận hoặc Thoả thuận chuyển giao quyền nộp đơn; Hợp đồng giao việc hoặc Hợp đồng lao động), gồm một (1) bản;
+ Tài liệu xác nhận quyền sở hữu nhãn hiệu, nếu kiểu dáng công nghiệp có chứa nhãn hiệu, gồm một (1) bản;
+ Giấy uỷ quyền (nếu cần);
+ Bản sao đơn đầu tiên hoặc tài liệu chứng nhận trưng bày tại triển lãm, nếu trong đơn có yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên theo Điều ước quốc tế, gồm một (1) bản;
+ Chứng từ nộp phí nộp đơn và phói công bố đơn, gồm một (1) bản.
+ Bản tiếng Việt của bản mô tả kiểu dáng công nghiệp, nếu trong đơn đã có bản tiếng Anh/Pháp/Nga của tài liệu đó;
+ Tài liệu xác nhận quyền sơ hữu nhãn hiệu;
+ Bản gốc của Giấy uỷ quyền, nếu trong đơn đã có bản sao;
+ Bản sao đơn đầu tiên hoặc tài liệu chứng nhận trưng bày tại triển lãm, kể cả bản dịch ra tiếng Việt.

Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp phải trình bày đầy đủ, rõ ràng bản chất của
kiểu dáng công nghiệp và phải phù hợp với bộ ảnh chụp hoặc bộ hình vẽ và bao gồm các nội dung sau:

+ Tên sản phẩm hoặc bộ phận sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp;
+ Chỉ số Phân loại Kiểu dáng công nghiệp Quốc tế (theo Thoả ước Locarno);
+ Lĩnh vực sử dụng của sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp;
+ Các kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết;
+ Liệt kê ảnh chụp hoặc hình vẽ;
+ Bản chất của kiểu dáng công nghiệp, trong đó cần nêu rõ đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ khác biệt với kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết.

Bộ ảnh chụp hoặc hình vẽ phải thể hiện đầy đủ bản chất của kiểu dáng công nghiệp như đã được mô tả nhằm xác định phạm vi (khối lượng) bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đó. ảnh chụp/hình vẽ phải rõ ràng và sắc nét, không được lẫn các sản phẩm khác với sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ. Tất cả các ảnh chụp/hình vẽ phải theo cùng một tỉ lệ. Kích thước mỗi ảnh chụp/hình vẽ không được nhỏ hơn (90 x 120)mm và không được lớn hơn (210 x 297) mm.

4. Thực hiện việc nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp
- Đơn đăng ký được nộp trực tiếp

5. Quá trình xét nghiệm đơn Kiểu dáng công nghiệp
Quy trình và thời hạn xem xét đơn
Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được xử lý tại Cục SHTT theo trình tự tổng quát sau (sơ đồ quy trình thẩm định đơn đăng ký KDCN):

a) Thẩm định hình thức:
Là việc đánh giá tính hợp lệ của đơn theo các yêu cầu về hình thức, về đối tượng loại trừ, về quyền nộp đơn… để từ đó đưa ra kết luận đơn hợp lệ hay không hợp lệ. Thời gian thẩm định hình thức là 1 tháng kể từ ngày nộp đơn

b) Công bố đơn hợp lệ:
Đơn đăng ký KDCN được chấp nhận là hợp lệ được công bố trên Công báo SHCN trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày được chấp nhận là đơn hợp lệ. Nội dung công bố đơn đăng ký CDĐL là các thông tin liên quan đến đơn hợp lệ ghi trong thông báo chấp nhận đơn hợp lệ, bộ ảnh chụp hoặc bản vẽ KDCN.

c) Thẩm định nội dung:
Đơn đăng ký KDCN đã được công nhận là hợp lệ được thẩm định nội dung để đánh giá khả năng cấp Bằng độc quyền KDCN cho đối tượng nêu trong đơn theo các điều kiện bảo hộ và xác định phạm vi bảo hộ tương ứng. Thời hạn thẩm định nội dung đơn KDCN là 7 tháng kể từ ngày công bố đơn

6. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cấp Văn bằng bảo hộ
- Người có quyền khiếu nại:
+ Người nộp đơn có quyền khiếu nại việc từ chối chấp nhận đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ, từ chối cấp Văn bằng bảo hộ;
+ Bất người thứ ba nào cũng có quyền khiếu nại quyết định cấp Văn bằng và phải nộp lệ phí khiếu nại theo quy định.

- Thủ tục khiếu nại:
+ Nội dung khiếu nại phải được thể hiện thành văn bản, trong đó phải nêu rõ họ, tên và địa chỉ của người khiếu nại; số, ngày ký, nội dung Quyết định hoặc Thông báo bị khiếu nại; số đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ liên quan; tên đối tượng cần được bảo hộ nêu trong đơn; nội dung, lý lẽ, dẫn chứng minh hoạ cho lý lẽ khiếu nại; đề nghị cụ thể về việc sửa chữa hoặc huỷ bỏ Quyết định hoặc kết luận liên quan;

+ Đơn khiếu nại phải được nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày ra Quyết định hoặc Thông báo. Đơn khiếu nại nộp sau thời hạn nêu trên không được xem xét.

+ Trong thời hạn 30 ngày tính từ ngày nhận được khiếu nại, Cục Sở hữu trí tuệ phải có ý kiến trả lời bằng văn bản cho Người khiếu nại.

+ Nếu không đồng ý với ý kiến trả lời của Cục Sở hữu trí tuệ, Người khiếu nại có quyền khiếu nại với Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc khởi kiện theo thủ tục tố tụng hành chính. Trường hợp khiếu nại với Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, trong thời hạn 60 ngày tính từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phải thông báo kết quả giải quyết khiếu nại cho Người khiếu nại.

Tại sao phải bảo hộ kiểu dáng công nghiệp


Một kiểu dáng công nghiệp tăng thêm giá trị cho sản phẩm của bạn. nó làm cho sản phẩm hấp dẫn và thu hút khách hàng.

Vì vậy bảo hộ các kiểu dáng giá trị là một phần có tính quyết định trong chiến lược kinh doanh của bất kỳ nhà thiết kế và sản xuất nào.

Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp bằng cách đăng ký ở cơ quan đăng ký quốc gia, bạn sẽ có được độc quyền để ngăn chặn người khác sao chép hoặc nhái lại nếu không được bạn uỷ quyền. Điều này tạo nên ý nghĩa kinh doanh bởi nó tăng khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp và tăng thêm doanh thu  bằng một hay nhiều cách sau:

Ngăn chặn đối thủ cạnh tranh sao chép hoặc nhái lại, và do đó tăng cường vị thế cạnh tranh của bạn .

Đăng ký một kiểu dáng giá trị góp phần thu lại vốn đầu tư thích đáng dành cho sáng tạo và marketing sản phẩm có liên quan, do đó tăng lợi nhuận.

Kiêu dáng công nghiệp là tài sản kinh doanh mà có thể tăng gía trị thương mại của một công ty và sản phẩm của nó.

Một kiểu dáng đựoc bảo hộ cũng có thể được cấp phép sử dụng (hoặc bán) cho người khác để lấy tiền. bằng cách cấp phép sử dụng kiểu dáng, bạn cũng có thể thâm nhấp thị trường mà bạn đang không thể phục vụ ở một mặt nào đó.

Đăng ký kiểu dáng công nghiệp khuyến khích cạnh tranh công bằng và thực hành thương mại trung thực.


Các tài liệu cần có của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp


Các tài liệu cần có của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, tờ khai đăng ký kiểu dáng công nghiệp, bộ ảnh chụp hoặc bộ bản vẽ, bản mô tả kiểu dáng công nghiệp

1. Tài liệu tối thiểu

(a) Tờ khai đăng ký KDCN theo mẫu số 03-KDCN Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trong Phụ lục A Thông tư 01/2007/TT-BKHCN;

(b) Bộ ảnh chụp hoặc bộ bản vẽ KDCN (05 bộ);

(c) Bản mô tả KDCN;

(d) Chứng từ nộp phí, lệ phí.

(e)Giấy ủy quyền cho Viettinlaw


2. Yêu cầu đối với đơn

(a) Mỗi đơn chỉ được yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ;

b) Mọi tài liệu của đơn đều phải được làm bằng tiếng Việt. Đối với các tài liệu được làm bằng ngôn ngữ khác theo quy định tại điểm 7.3 và điểm 7.4 của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN; thì phải được dịch ra tiếng Việt;

(c) Mọi tài liệu của đơn đều phải được trình bày theo chiều dọc (riêng hình vẽ, sơ đồ và bảng biểu có thể được trình bày theo chiều ngang) trên một mặt giấy khổ A4 (210mm x 297mm), trong đó có chừa lề theo bốn phía, mỗi lề rộng 20mm, trừ các tài liệu bổ trợ mà nguồn gốc tài liệu đó không nhằm để đưa vào đơn;

(d) Đối với tài liệu cần lập theo mẫu thì bắt buộc phải sử dụng các mẫu đó và điền đầy đủ các thông tin theo yêu cầu vào những chỗ thích hợp;

(e) Mỗi loại tài liệu nếu bao gồm nhiều trang thì mỗi trang phải ghi số thứ tự trang đó bằng chữ số Ả-rập;

(f) Tài liệu phải được đánh máy hoặc in bằng loại mực khó phai mờ,một cách rõ ràng, sạch sẽ, không tẩy xoá, không sửa chữa; trường hợp phát hiện có sai sót không đáng kể thuộc về lỗi chính tả trong tài liệu đã nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ thì người nộp đơn có thể sửa chữa các lỗi đó, nhưng tại chỗ bị sửa chữa phải có chữ ký xác nhận (và đóng dấu, nếu có) của người nộp đơn;

(g) Thuật ngữ dùng trong đơn phải là thuật ngữ phổ thông (không dùng tiếng địa phương, từ hiếm, từ tự tạo). Ký hiệu, đơn vị đo lường, phông chữ điện tử, quy tắc chính tả dùng trong đơn phải theo tiêu chuẩn Việt Nam;

(h) Đơn có thể kèm theo tài liệu bổ trợ là vật mang dữ liệu điện tử của một phần hoặc toàn bộ nội dung tài liệu đơn.

* Tham khảo: http://viettinlaw.com/dang-ky-bao-ho-kieu-dang-cong-nghiep.html

Kiểu dáng công nghiệp là gì?


1. Khái niệm: Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.

Sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp được hiểu là đồ vật, dụng cụ, thiết bị, phương tiện... thuộc mọi lĩnh vực, có kết cấu và chức năng nhất định, được sản xuất và lưu thông độc lập.

2. Điều kiện bảo hộ

Kiểu dáng công nghiệp chỉ được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Có tính mới trên phạm vi thế giới, nghĩa là chưa từng được bộc lộ công khai ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, dưới hình thức công bố hoặc sử dụng.

- Có tính sáng tạo, nghĩa là kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng.

- Có khả năng áp dụng công nghiệp, nghĩa là có khả năng dùng làm mẫu để chế tạo lặp đi lặp lại hàng loạt sản phẩm có kiểu dáng giống hệt bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

3. Các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp:

- Hình dáng bên ngoài của sản phẩm được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có trình độ trung bình thuộc lĩnh vực tương ứng, Ví dụ:

- Hình dáng bên ngoài do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có hoặc chỉ mang đặc tính kỹ thuật.

- Hình dáng bên ngoài của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng.

- Hình dáng bên ngoài chỉ có giá trị thẩm mỹ (không dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp).

- Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp.

- Các đối tượng trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo.

Tra cứu đăng ký kiểu dáng công nghiệp


Tra cứu đăng ký kiểu dáng công nghiệp là tra cứu trước khi nộp đơn đăng ký, kết quả tra cứu sẽ cho thấy kiểu dáng công nghiệp của doanh nghiệp có trùng hoặc tương tự với kiểu dáng công nghiệp của bên thứ ba

đã đăng ký tại Việt Nam cho cùng loại sản phẩm hay không.

Tra cứu hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.

Kiểu dáng công nghiệp là thành quả đầu tư của doanh nghiệp, có nghĩa là doanh nghiệp phải đầu tư tài chính, nhân lực vào quá trình thiết kế và cần phải đăng ký sở hữu trí tuệ cho tài sản của mình.

Tuy nhiên, trước khi nộp đơn chính thức thì cần đánh giá khả năng đăng ký kiểu dáng công nghiệp, kết quả tra cứu sẽ được gửi đến doanh nghiệp trong 02 -03 tháng kể từ ngày nộp đơn.

Tài liệu tiến hành tra cứu là bộ ảnh mẫu kiểu dáng sản phẩm cần tra cứu (chụp theo hướng dẫn của Topic Law) để chúng tôi thành lập bộ hồ sơ tra cứu kiểu dáng công nghiệp.

Đăng ký kiểu dáng công nghiệp quốc tế qua hệ thống Hague


Hãy tối đa hóa lợi ích của việc đổi mới kiểu dáng bằng việc sử dụng hệ thống Hague. Hệ thống Hague về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp cung cấp một cơ chế đăng ký kiểu dáng tại các quốc gia và/hoặc các tổ chức liên chính phủ là thành viên của Thỏa ước Hague. Hệ thống này được quản lý bởi Văn phòng quốc tế WIPO được đặt tại Geneve, Thụy Sỹ.

Hệ thống này giúp cho chủ sở hữu của kiểu dáng công nghiệp khả năng được bảo hộ ở các quốc gia khác bằng việc nộp một đơn duy nhất tại Văn phòng quốc tế WIPO, bằng một ngôn ngữ duy nhất, với một mức phí được tính bằng đồng Francs Thụy Sỹ. Việc đăng ký kiểu dáng quốc tế có chỉ định tại từng quốc gia cũng có giá trị như đăng ký tại từng quốc gia riêng lẻ, trừ phí việc bảo hộ bị từ chối bở cơ quan sở hữu trí tuệ của từng quốc gia.

Hệ thống Hague tạo ra sự đơn giản hóa trong việc quản lý việc đăng ký kiểu dáng công nghiệp, vì nó có thể cùng một lúc thay đổi và gia hạn việc đăng ký thông qua một thủ tục duy nhất với Văn phòng quốc tế WIPO.

Yêu cầu đối với bộ ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp


Khi nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, ngoài đơn đăng ký, bản mô tả kiểu dáng, người nộp đơn còn phải chuẩn bị ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp.

Đây là một công việc đòi hỏi những chuyên gia, luật sư có kinh nghiệm tiến hành, vì vậy, người nộp đơn nên tiến hành tham vấn để có những bộ ảnh chụp và bản vẽ phú hợp.

Theo quy định tại Thông tư 01, các quy định về bản vẽ, ảnh chụp kiểu dáng được quy định như sau:

Người nộp đơn phải nộp 05 bộ ảnh chụp hoặc 05 bộ bản vẽ kiểu dáng công nghiệp. Bộ ảnh chụp, bản vẽ phải thể hiện đầy đủ các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ đến mức căn cứ vào đó, bất kỳ người nào có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng đều có thể xác định được kiểu dáng công nghiệp đó và theo các hướng dẫn sau đây:

a) Ảnh chụp, bản vẽ phải rõ ràng, sắc nét; bản vẽ phải được thể hiện bằng đường nét liền; nền ảnh chụp, bản vẽ phải có màu đồng nhất và tương phản với kiểu dáng công nghiệp; trên ảnh chụp, bản vẽ chỉ được thể hiện sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ (không kèm theo sản phẩm khác).

b) Ảnh chụp, bản vẽ phải thể hiện kiểu dáng công nghiệp theo cùng một tỷ lệ. Kích thước của kiểu dáng công nghiệp trong ảnh chụp, bản vẽ không được nhỏ hơn 90mm x 120mm và không được lớn hơn 190mm x 277mm.

c) Ảnh chụp, bản vẽ phải thể hiện kiểu dáng công nghiệp theo cùng một chiều và lần lượt theo thứ tự: hình phối cảnh (ba chiều) của kiểu dáng công nghiệp, hình chiếu của kiểu dáng công nghiệp từ phía trước, từ phía sau, từ bên phải, từ bên trái, từ trên xuống, từ dưới lên; các hình chiếu phải được thể hiện chính diện.

d) Đối với kiểu dáng công nghiệp có hình chiếu đối xứng thì ảnh chụp, bản vẽ có thể không cần thể hiện thêm các hình chiếu đối xứng, với điều kiện phải nêu rõ điều đó trong phần liệt kê ảnh chụp, bản vẽ thuộc bản mô tả.

e) Đối với kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm có thể khai triển được (ví dụ: hộp đựng, đồ bao gói...), các hình chiếu của kiểu dáng công nghiệp có thể được thay thế bằng ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp ở trạng thái đã khai triển.

g) Tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của kiểu dáng công nghiệp, có thể cần phải có thêm ảnh chụp, bản vẽ phối cảnh từ các góc độ khác, mặt cắt, hình phóng to bộ phận, hình chi tiết rời của sản phẩm... đủ để thể hiện rõ các đặc điểm tạo dáng mới, khác biệt của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ.

h) Đối với sản phẩm có các trạng thái sử dụng khác nhau (ví dụ: sản phẩm có nắp hoặc có thể gập lại được), phải có ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm ở các trạng thái khác nhau.

i) Đối với kiểu dáng công nghiệp của bộ phận của sản phẩm hoàn chỉnh, phải có thêm ảnh chụp, bản vẽ minh hoạ vị trí lắp đặt, sử dụng bộ phận trên sản phẩm hoàn chỉnh.

k) Mỗi phương án của kiểu dáng công nghiệp phải có bộ ảnh chụp, bản vẽ thể hiện đầy đủ từng phương án theo quy định tại điểm này.

l) Đối với bộ sản phẩm phải có hình phối cảnh của cả bộ sản phẩm và bộ ảnh chụp, bản vẽ của từng sản phẩm trong bộ đó theo quy định tại điểm này.

Yêu cầu đối với bản mô tả kiểu dáng công nghiệp


Khi tiến hành thủ tục nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, ngoài đơn đăng ký, người nộp đơn cần phải chuẩn bị một bản mô tả kiểu dáng công nghiệp. Vì là tài liệu kỹ thuật, vì vậy, luật quy định những quy định về bản mô tả phải đáp ứng các điều kiện sau:

a) Tên kiểu dáng công nghiệp: là tên của chính sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp, được thể hiện bằng các từ ngữ thông dụng, không mang tính chất quảng cáo, không chứa ký hiệu, chú thích, chỉ dẫn thương mại;

b) Lĩnh vực sử dụng kiểu dáng công nghiệp: là lĩnh vực sử dụng cụ thể của sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp, trong đó nêu rõ mục đích sử dụng của sản phẩm đó;

c) Kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất: nêu rõ kiểu dáng công nghiệp ít khác biệt nhất với kiểu dáng công nghiệp của cùng loại sản phẩm nêu trong đơn, đã được biết đến một cách rộng rãi trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên), trong đó phải chỉ ra nguồn thông tin bộc lộ công khai kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất đó;

d) Liệt kê ảnh chụp hoặc bản vẽ: liệt kê lần lượt các ảnh chụp, bản vẽ phối cảnh (ba chiều), hình chiếu, mặt cắt... của kiểu dáng công nghiệp, phù hợp với số thứ tự được ghi của ảnh chụp, bản vẽ;

e) Phần mô tả kiểu dáng công nghiệp phải đáp ứng các quy định sau đây:

(i) Bộc lộ hoàn toàn bản chất của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ, trong đó phải nêu đầy đủ các đặc điểm tạo dáng thể hiện bản chất của kiểu dáng công nghiệp, đồng thời phải chỉ ra các đặc điểm tạo dáng mới, khác biệt so với kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất nêu tại điểm 33.5.c trên đây, phù hợp với các đặc điểm tạo dáng được thể hiện trong bộ ảnh chụp, bản vẽ;

(ii) Các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ phải được trình bày lần lượt theo thứ tự: các đặc điểm hình khối, đường nét, tương quan giữa các đặc điểm hình khối và/hoặc đường nét, các đặc điểm màu sắc (nếu có);

(iii) Đối với sản phẩm có các trạng thái sử dụng khác nhau (ví dụ: sản phẩm có nắp hoặc có thể gập lại được...), phải mô tả kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm ở các trạng thái khác nhau;

(iv) Nếu kiểu dáng công nghiệp gồm nhiều phương án thì phải chỉ rõ các đặc điểm khác biệt của những phương án còn lại so với phương án cơ bản (phương án đầu tiên nêu trong đơn);

(v) Nếu kiểu dáng công nghiệp là kiểu dáng của bộ sản phẩm thì phải mô tả kiểu dáng của từng sản phẩm trong bộ đó.

g) Phạm vi bảo hộ kiểu dáng công nghiệp (hoặc “yêu cầu bảo hộ”): phải liệt kê đầy đủ các đặc điểm tạo dáng cần và đủ để xác định bản chất kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ và phạm vi quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp, được thể hiện trên ảnh chụp, bản vẽ nêu trong đơn, bao gồm các đặc điểm tạo dáng mới, khác biệt so với kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết.

Trên đây là phần yêu cầu mô tả được quy định tại Thông tư 01 của Bộ Khoa học công nghệ, người nộp đơn cần liên hệ với các luật sư, chuyên gia để viết bản mô tả được chính xác và đầy đủ.

Đánh giá sự phù hợp của kiểu dáng công nghiệp


1. Trong quá trình thẩm định nội dung, thẩm định viên phải đánh giá sự phù hợp giữa đối tượng nêu trong đơn và loại văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp

Đối tượng nêu trong đơn bị coi là không phù hợp với loại văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp nếu:
a) Đối tượng đó không phải là hình dáng bên ngoài của sản phẩm;
b) Đối tượng nêu trong đơn là:
(i) Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có;
(ii) Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp;
(iii) Hình dáng bên trong (phần không nhìn thấy được) trong quá trình sử dụng sản phẩm (khai thác công dụng của sản phẩm theo cách thức thông thường, được thực hiện bởi bất kỳ người sử dụng nào, không kể các công việc bảo trì, bảo dưỡng hoặc sửa chữa sản phẩm).

2. Thông tư 01 cũng quy định về việc tra cứu thông tin trong việc thẩm định đơn đăng ký kiểu dáng, cụ thể như sau:

a) Mục đích tra cứu thông tin
Mục đích tra cứu thông tin là tìm kiếm trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc các kiểu dáng công nghiệp trùng lặp hoặc tương tự với kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn.
b) Nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc được sử dụng trong quá trình thẩm định nội dung đơn bao gồm các tài liệu sau đây:
(i) Các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp đã được Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận và có ngày công bố đơn sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định (nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên);
(ii) Các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp và các văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp do các tổ chức, quốc gia khác công bố trong vòng 25 năm trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định (nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên), được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu kiểu dáng công nghiệp hiện có tại Cục Sở hữu trí tuệ;
(iii) Các thông tin khác liên quan đến kiểu dáng công nghiệp do Cục Sở hữu trí tuệ thu thập và lưu giữ;
(iv) Các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp đã được Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận và có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên) sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định (dùng để kiểm tra nguyên tắc nộp đơn đầu tiên quy định tại điểm 35.9 của Thông tư này).
c) Trong trường hợp cần thiết và có thể, việc tra cứu được mở rộng hơn so với nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc.

3.  Báo cáo tra cứu
Kết quả tra cứu phải được thể hiện trong báo cáo tra cứu, trong đó phải ghi rõ lĩnh vực tra cứu, phạm vi tra cứu, kết quả tìm kiếm trong phạm vi đó (thống kê và chỉ rõ các kiểu dáng công nghiệp đối chứng tìm được, nguồn gốc thông tin, ngày công bố của thông tin tương ứng) và phải nêu họ tên người lập báo cáo (người tra cứu).
Trong điểm này, “kiểu dáng công nghiệp đối chứng” là kiểu dáng công nghiệp trùng lặp hoặc kiểu dáng công nghiệp tương tự với kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn, được so sánh với kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn khi đánh giá tính mới và tính sáng tạo.

Đánh giá tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp


Kiểu dáng công nghiệp phải có tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp, tính sáng tạo được quy định như sau:

Để đánh giá tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn, phải tiến hành so sánh tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp đó với tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của từng kiểu dáng công nghiệp đối chứng trùng lặp hoặc tương tự tìm được trong quá trình tra cứu thông tin.

b) Kết luận về tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp

Trong các trường hợp sau đây, kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được coi là không có tính sáng tạo:

(i) Kiểu dáng công nghiệp là sự kết hợp đơn thuần của các đặc điểm tạo dáng đã biết (các đặc điểm tạo dáng đã được bộc lộ công khai được sắp đặt hoặc lắp ghép với nhau một cách đơn thuần như thay thế, thay đổi vị trí, tăng giảm số lượng...);

(ii) Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng sao chép/mô phỏng một phần hoặc toàn bộ hình dáng tự nhiên vốn có của cây cối, hoa quả, các loài động vật..., hình dáng của các hình hình học (hình tròn, hình elíp, hình tam giác, hình vuông, chữ nhật, hình đa giác đều, các hình lăng trụ có mặt cắt là các hình kể trên...) đã được biết rộng rãi;

(iii) Kiểu dáng công nghiệp là sự sao chép đơn thuần hình dáng các sản phẩm, công trình đã nổi tiếng hoặc được biết đến một cách rộng rãi ở Việt Nam hoặc trên thế giới;

(iv) Kiểu dáng công nghiệp mô phỏng kiểu dáng công nghiệp thuộc lĩnh vực khác, nếu sự mô phỏng đó đã được biết đến rộng rãi trên thực tế (ví dụ: đồ chơi mô phỏng ô tô, xe máy...).

Nếu không thuộc các trường hợp nói trên, kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo.
35.9 Kiểm tra nguyên tắc nộp đơn đầu tiên theo quy định tại Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ
a) Để kiểm tra nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, phải tiến hành tra cứu thông tin trong nguồn bắt buộc quy định tại điểm 35.4.b (iv) của Thông tư này.

b) Kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được coi là đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên nếu không tìm thấy kiểu dáng công nghiệp trùng lặp hoặc không khác biệt đáng kể nêu trong những đơn đã đáp ứng các điều kiện để được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp tìm được trong quá trình tra cứu thông tin.
c) Kiểu dáng công nghiệp của bộ phận sản phẩm nêu trong đơn cũng được coi là đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên nếu không tìm thấy kiểu dáng công nghiệp trùng lặp hoặc không khác biệt đáng kể của bộ phận sản phẩm và/hoặc sản phẩm nêu trong những đơn đã đáp ứng các điều kiện để được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp tìm được trong quá trình tra cứu thông tin.

d) Trong trường hợp có nhiều đơn khác nhau đăng ký kiểu dáng công nghiệp trùng nhau hoặc không khác biệt đáng kể với nhau, cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn vẫn được coi là đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên quy định tại khoản 2 Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ nếu tất cả những người nộp đơn đạt được thoả thuận về việc đứng tên người nộp đơn trong một đơn duy nhất trong số các đơn đó để được cấp một Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp.

Đánh giá tính mới của kiểu dáng công nghiệp


Thông tư 01 quy định về các đánh giá tính mới của kiểu dáng công nghiệp như sau;
a) Cách đánh giá tính mới của kiểu dáng công nghiệp
Để đánh giá tính mới của kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn, phải tiến hành so sánh tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp

đó với tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp trùng lặp/tương tự gần nhất dùng làm kiểu dáng công nghiệp đối chứng tìm được trong quá trình tra cứu thông tin.

b) Kết luận về tính mới của kiểu dáng công nghiệp
Kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được coi là mới nếu:

(i) Không tìm thấy kiểu dáng công nghiệp đối chứng trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc; hoặc

(ii) Mặc dù có tìm thấy kiểu dáng công nghiệp đối chứng trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc nhưng kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn có ít nhất một đặc điểm tạo dáng cơ bản không có mặt trong (không thuộc) tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp đối chứng, hoặc

(iii) Kiểu dáng công nghiệp đối chứng chính là kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được công bố/bộc lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 65 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Đánh giá khả năng áp dụng công nghiệp của kiểu dáng công nghiệp


Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.

Một trong những yêu cầu khi thẩm định nội dung là kiểu dáng phải có khả năng áp dụng công nghiệp, vậy, đánh gái khả năng này được quy định như thế nào:

a) Kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu căn cứ vào các thông tin về kiểu dáng công nghiệp được trình bày trong đơn, người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng có thể dùng kiểu dáng công nghiệp đó làm mẫu để chế tạo bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp sản phẩm có hình dáng bên ngoài trùng với kiểu dáng công nghiệp đó.

Khái niệm “người có hiểu biết trung bình” về lĩnh vực tương ứng được hiểu theo quy định tương ứng tại điểm 23.6.a của Thông tư này.

b) Trong các trường hợp sau đây, đối tượng nêu trong đơn bị coi là không có khả năng áp dụng công nghiệp:

(i) Đối tượng nêu trong đơn là hình dáng của sản phẩm có trạng thái tồn tại không cố định (các sản phẩm ở thể khí, chất lỏng...);

(ii) Chỉ có thể tạo ra sản phẩm có hình dáng như đối tượng nêu trong đơn nhờ có kỹ năng đặc biệt hoặc không thể lặp đi lặp lại việc chế tạo ra sản phẩm có hình dáng như đối tượng nêu trong đơn;

(iii) Các trường hợp với lý do xác đáng khác.

Đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp


Để hiểu rõ về đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp, Thông tư 01 đã quy định cụ thể như sau:

a) Đặc điểm tạo dáng của một kiểu dáng công nghiệp là yếu tố thể hiện dưới dạng đường nét, hình khối, màu sắc, tương quan vị trí hoặc tương quan kích thước để khi kết hợp với các đặc điểm (dấu hiệu) khác tạo thành một tập hợp cần và đủ để tạo thành kiểu dáng công nghiệp đó.

b) Các yếu tố sau đây không được coi là đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp:
(i) Hình khối, đường nét được quyết định bởi chính chức năng kỹ thuật của sản phẩm (ví dụ: hình dạng dẹt, phẳng của đĩa ghi dữ liệu được quyết định bởi chuyển động tương đối giữa đĩa và đầu đọc...);

(ii) Yếu tố mà sự có mặt của nó trong tập hợp các dấu hiệu không đủ gây ấn tượng thẩm mỹ (ấn tượng về hình dáng của sản phẩm không thay đổi khi có mặt và khi không có mặt yếu tố đó; ví dụ: sự thay đổi một hình khối, đường nét quen thuộc nhưng sự thay đổi đó không đủ để nhận biết, do đó hình khối, đường nét đã thay đổi vẫn chỉ được nhận biết là hình khối, đường nét cũ);

(iii) Vật liệu dùng để chế tạo sản phẩm;

(iv) Các dấu hiệu được gắn, dán... lên sản phẩm chỉ để thực hiện chức năng thông tin, hướng dẫn về nguồn gốc, đặc điểm, cấu tạo, công dụng, cách sử dụng... sản phẩm đó; ví dụ: các từ ngữ trên nhãn hàng hoá;
(v) Kích cỡ của sản phẩm, trừ trường hợp thay đổi kích cỡ trang trí của mẫu vải và vật liệu tương tự.

c) Đặc điểm tạo dáng cơ bản và đặc điểm tạo dáng không cơ bản

Đặc điểm tạo dáng cơ bản là đặc điểm tạo dáng dễ dàng nhận biết/ghi nhớ, cần và đủ để xác định kiểu dáng công nghiệp và phân biệt kiểu dáng công nghiệp với kiểu dáng công nghiệp khác dùng cho sản phẩm cùng loại.

Đặc điểm tạo dáng không đáp ứng điều kiện trên gọi là “đặc điểm tạo dáng không cơ bản”.

Đặc điểm tạo dáng của Kiểu dáng công nghiệp trong thẩm định nội dung


Theo quy định của pháp luật hiện hành, đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá tính mới, tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp thông qua việc so sánh, đối chiếu kiểu dáng công nghiệp đó với các kiểu dáng công nghiệp đã tồn tại trước đó.

Theo đó, đặc điểm tạo dáng công nghiệp là yếu tố thể hiện dưới dạng đường nét, hình khối, màu sắc, tương quan vị trí hoặc tương quan kích thước để khi kết hợp với các đặc điểm (dấu hiệu) khác tạo thành một tập hợp cần và đủ để tạo thành kiểu dáng công nghiệp đó.

Đặc điểm tạo dáng cơ bản là đặc điểm tạo dáng dễ dàng nhận biết/ ghi nhớ, cần và đủ để xác định kiểu dáng công nghiệp và phân biệt kiểu dáng công nghiệp với kiểu dáng công nghiệp khác dùng cho sản phẩm cùng loại.

Đặc điểm tạo dáng không đáp ứng điều kiện trên gọi là đặc điểm tạo dáng không cơ bản

Ngoài ra, theo quy định của Luật SHTT hiện hành, những yếu tố sau đây không được coi là đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp:

1. Hình khối, đường nét được quyết định bởi chính chức năng kỹ thuật của sản phẩm (ví dụ: hình dạng lõm của bát, cốc; hình dạng dẹt phẳng của đĩa ghi dữ liệu….)

2. Yếu tố mà sự có mặt của nó trong tập hợp các dấu hiệu không đủ gây ấn tượng thẩm mỹ (ấn tượng về hình dáng sản phẩm không thay đổi khi có mặt và khi không có mặt yếu tố đó).

3. Vật liệu dùng để chế tạo sản phẩm

4. Các dấu hiệu được gắn, dán….lên sản phẩm chỉ để thực hiện chức năng thông tin, hướng dẫn về nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, công dụng, cách sử dụng…sản phẩm đó.

5. Kích cỡ của sản phẩm, trừ trường hợp thay đổi kích cỡ trang trí của mẫu vải và vật liệu tương tự.

Như vậy, để đối chiếu, so sánh kiểu dáng công nghiệp xin đăng ký bảo hộ với các kiểu dáng công nghiệp đã tồn tại trước đó, Cục SHTT cần xem xét đâu là các đặc điểm tạo dáng cơ bản và không cơ bản của những kiểu dáng này và so sánh chúng với nhau.

Đăng ký kiểu dáng tại Benelux


Cơ quan sở hữu trí tuệ Benelux (BOIP - Benelux Office for Intellectual Property) là một bộ phận của Tổ chức sở hữu trí tuệ tại Benelux.

Đôi ngũ nhân viên đa ngôn ngữ của BOIP làm việc tại trụ sở chính ở Hague – “thủ đô chính trị” cua Hà Lan và liên kết mật thiết với các cơ quan quốc gia ở Bỉ và Lúc-xem-bua. Trong quá trình phát triển của mình, BOIP nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề hợp tác quốc tế và giữ mối liên hệ  với hàng loạt quốc gia cũng như tổ chức quốc tế về sở hữu trí tuệ trên thế giới.

Ngoài đăng ký nhãn hiệu. BOIP còn là cơ quan chính thức về đăng ký kiểu dáng công nghiệp tại Benelux. Các kiểu dáng đã được đăng ký tại BOIP được bảo hộ độc quyền trong khu vực Benelux trong thời hạn 5 năm, sau đó có thể gia hạn cho 4 giai đoạn liên tiếp và tối đa là 25 năm.

Bạn có thể in ra các hình thức, các phụ lục cho một ứng dụng nhiều thiết kế, và ghi chú giải thích. Hình thức của chúng tôi là chỉ có sẵn bằng tiếng Hà Lan và tiếng Pháp. Sau khi bạn đã điền vào các hình thức, bạn có thể gửi cho chúng tôi qua bưu điện hoặc fax hoặc gửi cho chúng tôi trong người.

II. Thủ tục đăng ký kiểu dáng

1. Quy trình tiến hành

Bước 1: Tra cứu kiểu dáng
Kết quả của bước này là bản Thông báo kết quả tra cứu với ý kiến tư vấn của chúng tôi về khả năng đăng ký kiểu dáng tại BOIP. Việc thực hiện bước này là không bắt buộc, tuy nhiên, để tiết kiệm thời gian, chi phí và đảm bảo an toàn, Quý khách hàng nên tiến hành tra cứu trước khả năng đăng ký kiểu dáng.
Thời gian tiến hành:10 - 15 ngày làm việc.

Bước 2: Yêu cầu đăng ký kiểu dáng
Chúng tôi sẽ tiến hành nộp và thực hiện các thủ tục cần thiết đối với đơn đăng ký kiểu dáng tại Cơ quan sở hữu trí tuệ của Benelux - BOIP
Thời gian tiến hành: 04 – 06 tháng.
LƯU Ý: - Hồ sơ đăng ký có thể nộp qua đường bưu điện, fax hoặc nộp trực tiếp tại BOIP.

Bước 3: Cấp văn bằng bảo hộ.
Khi kiểu dáng đã được chấp thuận bảo hộ, Quý khách hàng sẽ nhận được Thông báo cấp Giấy chứng nhận đăng ký kiểu dáng và sau đó là bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký kiểu dáng.
Thời gian tiến hành: 02 tháng.

LƯU Ý: Thời gian tiến hành thủ tục đăng ký kiểu dáng nêu trên chỉ mang tính chất ước lượng và có thể thay đổi một cách hợp lý nếu có phản đối đơn, sự kiện bất khả kháng hoặc sự kiện khách quan khác xảy ra trong quá trình tiến hành các thủ tục.

Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp và tầm quan trọng đối với doanh nghiệp


Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp và tầm quan trọng đối với doanh nghiệp

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

Kiểu dáng công nghiệp có tầm quan trọng rất lớn đối với các sản phẩm của doanh nghiệp. Trong thị trường cạnh tranh khốc liệt, để có thể đứng vững và cạnh tranh với các sản phẩm khác, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư rất nhiều thời gian và tiền của nhằm cải thiện kiểu dáng các sản phẩm của họ. Đây được coi là hành động đáng khích lệ bởi:

- Tạo ra các sản phẩm mới với các kiểu dáng bắt mắt, tính năng vượt trội, giúp doanh nghiệp có cơ hội cạnh tranh với các sản phẩm khác trên thị trường.

- Đa dạng hoá các sản phẩm với các kiểu dáng khác nhau nhằm hướng tới nhiều nhóm khách hàng ở các độ tuổi khác nhau. Ví dụ: đối với sản phẩm ví đựng tiền, việc thay đổi các kiểu dáng khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp có thể phục vụ nhu cầu của nhiều khách hàng từ nam cho đến nữ, từ người già đến người trẻ…

- Liên tục thay đổi không ngừng kiểu dáng các sản phẩm của mình khiến cho doanh nghiệp ngày càng thu hút được khách hàng, khẳng định được tên tuổi cũng như thương hiệu của mình trên thương trường.

Việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như:
- Giúp doanh nghiệp được đảm bảo sự độc quyền của mình đối với sản phẩm được bảo hộ, bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp khi sản phẩm được bảo hộ của họ bị làm nhái, sao chép…

- Trước thực trạng hàng giả, hàng nhái được sản xuất tràn lan, doanh nghiệp có những sản phẩm được bảo hộ kiểu dáng công nghiệp thành công sẽ là cơ sở để xử lý vi phạm đối với những trường hợp làm nhái, sao chép sản phẩm, giúp củng cố niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp.

- Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ngoài việc bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trước những hành vi xâm phạm còn có thể là nguồn thu nhập thêm cho doanh nghiệp thông qua việc thu phí chuyển giao quyền sử dụng kiểu dáng cho người khác (hợp đồng li-xăng).

Thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp


Theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, để có đủ tư cách cho bảo hộ, một kiểu dáng công nghiệp phải mới lạ, sáng tạo và có tính ứng dụng công nghiệp.

Một kiểu dáng công nghiệp được cho là mới nếu nó khác biệt rõ ràng với các kiểu dáng công nghiệp khác mà đã được công bố rộng rãi bằng cách sử dụng họăc bằng các phương tiện mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào dù ở trong hay ngoài nước Việt Nam trước ngày nộp đơn  đăng ký kiểu dáng công nghiệp.

Một kiểu dáng công nghiệp được cho là có tính sáng tạo nếu dựa trên kiểu dáng công nghiệp đã được công bố rộng rãi bằng cách sử dụng họăc bằng các phương tiện mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào dù ở trong hay ngoài nước Việt Nam trước ngày nộp đơn  đăng ký kiểu dáng công nghiệp, kiểu dáng công nghiệp không thể dễ dàng được tạo ra bởi 1 người với kiến thức trung bình về nghệ thuật.

Một kiểu dáng công nghiệp được cho là dễ ứng dụng công nghiệp nếu nó có thể được sử dụng như là 1 mô hình cho sản xuất hàng loạt các sản phẩm với hình dáng bên ngoài  thể hiện rõ được kiểu dáng công nghiệp đó bằng các phương pháp công nghiệp hoặc thủ công  .

Những đặc điểm sau làm kiểu dáng công nghiệp  không đủ tư cách để bảo hộ:
  • Hình dáng bên ngoài của 1 sản phẩm cần  có đặc tính kỹ thuật của sản phẩm .
  • Hình dáng bên ngoài của các công trình xây dựng công nghiệp.
  • Hình dáng sản phẩm vô hình trong quá trình sử dụng sản phẩm .    

Nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện sở hữu trí tuệ tới NOIP. Nếu người nộp đơn chọn nộp đơn qua đại diện, thì cần phải có các tài liệu gồm:

1. Giấy uỷ quyền của người nộp đơn; không cần công chứng và/hoặc chứng nhận hợp pháp  (cần lúc nộp đơn;bản fax cũng được chấp nhận miễn là bản gốc được nộp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn);

2. Giấy tờ này phải có chữ ký của người nộp đơn nếu là cá nhân hoặc là người đại diện cho người nộp đơn, nếu là tư cách pháp nhân phải có con dấu (nếu có). không cần công chứng và/hoặc chứng nhận hợp pháp.

3. Sáu (6) bộ ảnh chụp hoặc bộ bản vẽ KDCN gồm ảnh chụp hay bản vẽ mặt trước, mặt sau, bên phải, bên trái, phía trên, phía dưới và hình phối cảnh của KDCN. Kích thước ảnh chụp hoặc bản vẽ không lớn hơn 210 x 297 mm, và không nhỏ hơn 90 x 120 mm (yêu cầu nộp đồng thời với đơn);

4. Chú ý nếu một kiểu dáng được áp dụng cho 1 phần của hàng hoá, ảnh chụp / bức vẽ phối cảnh  của hàng hoá phải chỉ rõ phần được yêu cầu.

5. Trong trường hợp kiểu dáng có độ phức tạp cao, cần một bản vẽ mặt cắt ngang ở vị trí thích hợp. nếu một hàng hoá mà kiểu dáng được áp dụng như là  một cái nắp hoặc có thể mở ra được (ví dụ tủ lạnh, tủ quần áo hoặc vali), cần bản vẽ / ảnh chụp hàng hoá ở vị trí mở.

6. Bản sao chứng nhận đơn đầu tiên và bản dịch tiếng Anh, nếu Công ước Pari yêu cầu  (tài liệu này có thể nộp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn).

7. Hợp đồng chuyển nhượng Quyền ưu tiên (áp dụng trong trường hợp Người nộp đơn không đồng thời là người đã nộp đơn ưu tiên. Tài liệu này có thể được nộp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn);

8. Tài liệu này được các bên ký và đóng dấu  (nếu có). không cần công chứng và/ hoặc chứng nhận hợp pháp.

9. Bản sao mô tả kiểu dáng công nghiệp chỉ rõ tính mới lạ và là một tác phẩm nghệ thuật đầu tiên (cần lúc nộp đơn);

Lưu ý:  hợp đồng chuyển nhượng quyền ưu tiên từ người thiết kế cho người đăng ký (người thiết kế và người  đăng ký khác nhau ), theo luật kiểu dáng hiện hành không bắt buộc tại thời điểm nộp đơn. Tuy nhiên Cục sở hữu trí tuệ Việt (NOIP) bảo lưu quyền yêu cầu người nộp đơn nộp tài liệu này trong trường hợp  NOIP có cơ sở hợp lý để nghi ngờ tính hợp pháp của người đăng...

Xử lý đơn sáng chế quốc tế, đơn PCT


Việt Nam hiện nay là thành viên của Hiệp ước hợp tác về sáng chế - PCT, vì vậy, Việt Nam có nghĩa vụ bảo hộ các đơn quốc tế về sáng chế tại Việt Nam.

TopicLaw giới thiệu về quy trình xử lý đơn quốc tế về sáng chế theo quy định tại Thông tư 01 của Bộ khoa học và công nghệ hướng dẫn Nghị định 103 về sở hữu công nghiệp như sau:

1.    Cơ quan nhận đơn
Cơ quan có thẩm quyền nhận đơn quốc tế về sáng chế tại Việt Nam là Cục Sở hữu trí tuệ.
Cục Sở hữu trí tuệ có trách nhiệm:
a) Nhận đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam;
b) Thu phí gửi đơn quốc tế và thông báo các khoản lệ phí theo quy định để người nộp đơn chuyển cho Văn phòng quốc tế và Cơ quan tra cứu quốc tế theo quy định của Hiệp ước hợp tác về sáng chế - PCT (sau đây gọi là “Hiệp ước”);
c) Kiểm tra các khoản lệ phí có được nộp đúng hạn hay không;
d) Kiểm tra và xử lý đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam theo quy định của Hiệp ước;
e) Xác định đối tượng yêu cầu bảo hộ: nếu đối tượng yêu cầu bảo hộ của đơn thuộc diện bí mật quốc gia thì không tiến hành tiếp các công việc tiếp theo và các khoản lệ phí sẽ được hoàn trả cho người nộp đơn, trừ lệ phí gửi và lệ phí sao đơn quốc tế;
g) Gửi một bản (bản hồ sơ) của đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam cho Văn phòng quốc tế và một bản (bản tra cứu) cho cơ quan tra cứu quốc tế;
h) Gửi và nhận thư từ người nộp đơn và từ các cơ quan quốc tế.

2 Ngôn ngữ

Đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ phải được làm bằng tiếng Anh. Mỗi đơn được làm thành 03 bản.
Trong trường hợp không đủ số bản quy định, Cục Sở hữu trí tuệ sao thêm cho đủ số bản cần thiết và người nộp đơn phải nộp phí sao đơn quốc tế.

3 Cơ quan tra cứu quốc tế và cơ quan xét nghiệm sơ bộ quốc tế

Đối với các đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam, các cơ quan tra cứu quốc tế và các cơ quan xét nghiệm sơ bộ quốc tế có thẩm quyền là các cơ quan sáng chế, cơ quan sở hữu công nghiệp hoặc sở hữu trí tuệ của Ôx-trây-li-a, Áo, Liên bang Nga, Thụy Điển, Hàn Quốc và Cơ quan Sáng chế châu Âu.

4 Đơn quốc tế có chỉ định Việt Nam

a) Nếu trong đơn quốc tế có chỉ định Việt Nam thì Cục Sở hữu trí tuệ sẽ là Cơ quan được chỉ định. Trong trường hợp này, để được vào Giai đoạn quốc gia, trong thời hạn 31 tháng kể từ ngày ưu tiên người nộp đơn phải nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ:
(i) Tờ khai yêu cầu đăng ký sáng chế, làm theo mẫu 01-SC quy định tại Phụ lục A của Thông tư này;
(ii) Bản sao đơn quốc tế (trường hợp người nộp đơn yêu cầu vào giai đoạn quốc gia trước ngày công bố quốc tế);
(iii) Bản dịch ra tiếng Việt của đơn quốc tế: bản mô tả, gồm phần mô tả, yêu cầu bảo hộ, chú thích các hình vẽ và bản tóm tắt (bản công bố hoặc bản gốc nộp ban đầu, nếu đơn chưa được công bố và bản sửa đổi và bản giải thích phần sửa đổi, nếu đơn quốc tế có sửa đổi theo Điều 19 của Hiệp ước);
(iv) Phí và lệ phí quốc gia.
b) Đơn quốc tế nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc thời hạn quy định tại điểm 27.4.a trên đây có thể được chấp nhận với điều kiện người nộp đơn nộp phí, lệ phí theo quy định.

5 Đơn quốc tế có chọn Việt Nam
a) Nếu trong đơn quốc tế có chọn Việt Nam thì Cục Sở hữu trí tuệ sẽ là cơ quan được chọn. Trong trường hợp này, nếu việc chọn Việt Nam được tiến hành trong thời hạn 19 tháng kể từ ngày ưu tiên, để được vào giai đoạn quốc gia, trong thời hạn 31 tháng kể từ ngày ưu tiên, người nộp đơn phải nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ các tài liệu sau đây:

(i) Tờ khai yêu cầu đăng ký sáng chế, làm theo mẫu 01-SC quy định tại Phụ lục A của Thông tư này;

(ii) Bản dịch ra tiếng Việt của đơn quốc tế: bản mô tả, gồm phần mô tả, yêu cầu bảo hộ, chú thích các hình vẽ và bản tóm tắt (bản công bố hoặc bản gốc nộp ban đầu, nếu đơn chưa được công bố và bản sửa đổi và bản giải thích phần sửa đổi, nếu đơn quốc tế có sửa đổi theo Điều 19 và/hoặc Điều 34(2)(b) của Hiệp ước);

(iii) Bản dịch ra tiếng Việt của các phụ lục báo cáo xét nghiệm sơ bộ quốc tế (khi có yêu cầu xét nghiệm nội dung đơn);

(iv) Phí và lệ phí quốc gia.
b) Đơn quốc tế nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc thời hạn quy định tại điểm 27.5.a trên đây có thể được chấp nhận với điều kiện người nộp đơn nộp lệ phí theo quy định.

6 Yêu cầu hưởng quyền ưu tiên

Để được hưởng quyền ưu tiên, người nộp đơn phải khẳng định lại điều đó trong tờ khai, nộp phí xin hưởng quyền ưu tiên và theo yêu cầu của Cục Sở hữu trí tuệ, phải nộp bản dịch ra tiếng Việt của các tài liệu đã nộp cho Văn phòng quốc tế các tài liệu cần thiết theo Quy tắc 17.1(a) của Quy chế thi hành Hiệp ước.
Đối với đơn PCT, việc xử lý yêu cầu hưởng quyền ưu tiên phù hợp với Hiệp ước PCT và Quy chế thi hành Hiệp ước.

7 Xử lý đơn quốc tế trong giai đoạn quốc gia

a) Sửa đổi, bổ sung tài liệu trong giai đoạn quốc gia
Phù hợp với Quy tắc 51bis của Quy chế thi hành Hiệp ước, người nộp đơn phải nộp giấy uỷ quyền, giấy chuyển nhượng quyền nộp đơn trong giai đoạn quốc tế (nếu có) trong thời hạn 34 tháng kể từ ngày ưu tiên.
Phù hợp với Điều 28 và Điều 41 của Hiệp ước và Quy tắc 52.1(b) và 78.1(b) của Quy chế thi hành Hiệp ước, người nộp đơn có thể sửa đổi, bổ sung các tài liệu của đơn trong giai đoạn quốc gia. Ngay tại thời điểm vào giai đoạn quốc gia, người nộp đơn cũng có thể sửa đổi, bổ sung bản mô tả. Việc sửa đổi, bổ sung nói trên phải phù hợp với quy định tại điểm 17 của Thông tư này.

Các tài liệu bổ sung, sửa đổi do người nộp đơn nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ phải được làm bằng tiếng Việt.

b) Thời điểm bắt đầu giai đoạn quốc gia

Thời điểm bắt đầu xử lý đơn quốc tế có chỉ định Việt Nam hoặc có chọn Việt Nam ở giai đoạn quốc gia kể từ ngày đầu tiên của tháng thứ ba mươi hai kể từ ngày ưu tiên, nếu người nộp đơn không có văn bản yêu cầu vào giai đoạn quốc gia sớm hơn các thời hạn nêu trên.

c) Thẩm định đơn quốc tế

Sau khi vào giai đoạn quốc gia, đơn quốc tế được thẩm định hình thức và thẩm định nội dung theo thủ tục quy định đối với đơn đăng ký sáng chế thông thường. Nếu người nộp đơn có văn bản yêu cầu thẩm định đơn trước thời hạn và nộp phí theo quy định, đơn quốc tế sẽ được thẩm định trước thời hạn quy định tại điểm 27.7.b trên đây phù hợp với quy định tại Điều 23(2) của Hiệp ước.

d) Đơn quốc tế bị coi là rút bỏ
Ngoài những trường hợp bị coi là rút bỏ theo quy định của Hiệp ước và Quy chế thi hành Hiệp ước, trong trường hợp lệ phí quốc gia không được nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ hoặc không có bản dịch ra tiếng Việt sau khi đã hết thời hạn quy định, đơn quốc tế có chỉ định hoặc có chọn Việt Nam sẽ bị coi là rút bỏ.

8 Phí, lệ phí đăng ký quốc tế

a) Người nộp đơn quốc tế vào giai đoạn quốc gia phải nộp phí, lệ phí theo quy định đối với đơn đăng ký sáng chế nộp trực tiếp tại Việt Nam.
b) Người nộp đơn quốc tế có nguồn gốc Việt Nam phải nộp các khoản phí, lệ phí theo quy định của Quy chế thi hành Hiệp ước và theo Thông tư hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp của Bộ Tài chính.

Đăng ký sáng chế theo Hiệp ước PCT có chỉ định Việt Nam


Việc đăng ký sáng chế theo Hiệp ước PCT (Patent Coporation Treaty) có chỉ định Việt Nam được quy định trong và Hiệp ước hợp tác quốc tế về Bằng sáng chế năm 1970, được sửa đổi năm 1984 và Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005, các thông tư nghị định hướng dẫn,  cụ thể như sau

1.    Yêu cầu để thực hiện việc nộp đơn đăng ký sáng chế

Để được cấp bằng độc quyền sáng chế, giải pháp nộp đơn phải đáp ứng các yêu cầu sau:

a. Đơn phải được nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ trước khi kết thúc tháng thứ 31 kể từ ngày ưu tiên.

b. Tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện để được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Việt Nam có thể nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam theo Hiệp ước PCT

c. Để được cấp bằng độc quyền sáng chế, giải pháp nộp đơn phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Có tính mới; - Có trình độ sáng tạo; - Có khả năng áp dụng công nghiệp.  

d. Để được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, giải pháp nộp đơn phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Có tính mới; - Có khả năng áp dụng công nghiệp.

2. Quy trình đăng ký sáng chế theo Hiệp ước PCT có chỉ định Việt Nam
- Tiếp nhận đơn: Đơn đăng ký yêu cầu bảo hộ tại Việt Nam (gọi tắt là đơn PCT có chỉ định Việt Nam) có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện tới Cơ quan Sở hữu trí tuệ của bất kỳ nước Thành viên nào của Hiệp ước PCT (kể cả Việt Nam).
- Xử lý đơn trong giai đoạn quốc gia: Sau khi vào giai đoạn quốc gia, đơn PCT có chỉ định Việt Nam được thẩm định hình thức và thẩm định nội dung theo các thủ tục quy định đối với đơn đăng ký sáng chế thông thường tại Việt Nam.

3. Nộp đơn sáng chế có chỉ định tại Việt Nam theo cách nào?
  • - Trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ hoặc Văn phòng quốc tế.
  • - Qua bưu điện.
  • - Qua đại diện sở hữu công nghiệp (như ViettinLaw).

4. Thành phần, số lượng hồ sơ:
a,Tờ khai (theo mẫu);  
b, Bản sao đơn quốc tế (trường hợp người nộp đơn yêu cầu vào giai đoạn quốc gia trước ngày công bố quốc tế);  
c, Bản dịch ra tiếng Việt của đơn quốc tế: Bản mô tả, yêu cầu bảo hộ, chú thích các hình vẽ và bản tóm tắt;  
d, Chứng từ nộp phí, lệ phí quốc gia.

5.     Thời hạn tiến hành trình tự thủ tục:
- Công bố đơn: 18 tháng kể từ ngày ưu tiên;
- Thẩm định nội dung: 12 tháng từ ngày có yêu cầu thẩm định nội dung hoặc ngày công bố.

6.  Dịch vụ đăng ký sáng chế PCT có chọn Việt Nam của Việt Tín
a.    Tư vấn, tra cứu, đánh giá khả năng sử dụng, đăng ký bảo hộ sáng chế / giải pháp hữu ích ở Việt Nam và nước ngoài;
b.    Hoàn thiện hồ sơ xin cấp văn bằng bảo hộ Sáng chế (dịch tài liệu hoặc viết bản mô tả sáng chế và yêu cầu bảo hộ, chuẩn bị các hình vẽ, làm tờ khai, đại diện) cho khách hàng trong việc nộp đơn yêu cầu cấp bằng bảo hộ ở Việt Nam và ở nước ngoài;
c.    Tư vấn và thực hiện dịch vụ duy trì hiệu lực văn bằng bảo hộ sáng chế đã được cấp ở Việt Nam và ở nước ngoài;
d.    Tư vấn và đánh giá khả năng vi phạm các quyền sáng chế đang được bảo hộ;
e.    Đánh giá hiệu lực văn bằng bảo hộ sáng chế đã được cấp ở Việt Nam và ở nước ngoài;
f.     Đàm phán, soạn thảo, thẩm định, đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu các sáng chế ở Việt Nam và ở nước ngoài;
g.    Đại diện theo ủy quyền cho khách hàng thực hiện phúc đáp, khiếu kiện các Quyết định của Cục Sở hữu trí tuệ bao gồm, phản đối, kiến nghị thay đổi quyết định;

Đơn đăng ký sáng chế quốc tế theo PCT


Đơn đăng ký sáng chế quốc tế theo PCT, Cơ quan có thẩm quyền nhận đơn quốc tế về sáng chế tại Việt Nam là Cục Sở hữu trí tuệ Nhận đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam chỉ định dăng ký các nước

1. Cơ quan có thẩm quyền nhận đơn quốc tế về sáng chế tại Việt Nam là Cục Sở hữu trí tuệ.

Cục Sở hữu trí tuệ có trách nhiệm:

a) Nhận đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam;

b) Thu phí gửi đơn quốc tế và thông báo các khoản lệ phí theo quy định để người nộp đơn chuyển cho Văn phòng quốc tế và Cơ quan tra cứu quốc tế theo quy định của Hiệp ước hợp tác về sáng chế - PCT (sau đây gọi là “Hiệp ước”);

c) Kiểm tra các khoản lệ phí có được nộp đúng hạn hay không;

d) Kiểm tra và xử lý đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam theo quy định của Hiệp ước;

e) Xác định đối tượng yêu cầu bảo hộ: nếu đối tượng yêu cầu bảo hộ của đơn thuộc diện bí mật quốc gia thì không tiến hành tiếp các công việc tiếp theo và các khoản lệ phí sẽ được hoàn trả cho người nộp đơn, trừ lệ phí gửi và lệ phí sao đơn quốc tế;

g) Gửi một bản (bản hồ sơ) của đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam cho Văn phòng quốc tế và một bản (bản tra cứu) cho cơ quan tra cứu quốc tế;

h) Gửi và nhận thư từ người nộp đơn và từ các cơ quan quốc tế.

2. Ngôn ngữ

Đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ phải được làm bằng tiếng Anh. Mỗi đơn được làm thành 03 bản.

Trong trường hợp không đủ số bản quy định, Cục Sở hữu trí tuệ sao thêm cho đủ số bản cần thiết và người nộp đơn phải nộp phí sao đơn quốc tế.

3. Cơ quan tra cứu quốc tế và cơ quan xét nghiệm sơ bộ quốc tế

Đối với các đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam, các cơ quan tra cứu quốc tế và các cơ quan xét nghiệm sơ bộ quốc tế có thẩm quyền là các cơ quan sáng chế, cơ quan sở hữu công nghiệp hoặc sở hữu trí tuệ của Ôx-trây-li-a, Áo, Liên bang Nga, Thụy Điển, Hàn Quốc và Cơ quan Sáng chế châu Âu.

4. Đơn quốc tế có chỉ định Việt Nam

a) Nếu trong đơn quốc tế có chỉ định Việt Nam thì Cục Sở hữu trí tuệ sẽ là Cơ quan được chỉ định. Trong trường hợp này, để được vào Giai đoạn quốc gia, trong thời hạn 31 tháng kể từ ngày ưu tiên người nộp đơn phải nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ:

(i) Tờ khai yêu cầu đăng ký sáng chế, làm theo mẫu 01-SC quy định tại Phụ lục A của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN;

(ii) Bản sao đơn quốc tế (trường hợp người nộp đơn yêu cầu vào giai đoạn quốc gia trước ngày công bố quốc tế);

(iii) Bản dịch ra tiếng Việt của đơn quốc tế: bản mô tả, gồm phần mô tả, yêu cầu bảo hộ, chú thích các hình vẽ và bản tóm tắt (bản công bố hoặc bản gốc nộp ban đầu, nếu đơn chưa được công bố và bản sửa đổi và bản giải thích phần sửa đổi, nếu đơn quốc tế có sửa đổi theo Điều 19 của Hiệp ước);

(iv) Phí và lệ phí quốc gia.

b) Đơn quốc tế nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc thời hạn quy định trên đây có thể được chấp nhận với điều kiện người nộp đơn nộp phí, lệ phí theo quy định.

5. Đơn quốc tế có chọn Việt Nam

a) Nếu trong đơn quốc tế có chọn Việt Nam thì Cục Sở hữu trí tuệ sẽ là cơ quan được chọn. Trong trường hợp này, nếu việc chọn Việt Nam được tiến hành trong thời hạn 19 tháng kể từ ngày ưu tiên, để được vào giai đoạn quốc gia, trong thời hạn 31 tháng kể từ ngày ưu tiên, người nộp đơn phải nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ các tài liệu sau đây:

(i) Tờ khai yêu cầu đăng ký sáng chế, làm theo mẫu 01-SC quy định tại Phụ lục A của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN;

(ii) Bản dịch ra tiếng Việt của đơn quốc tế: bản mô tả, gồm phần mô tả, yêu cầu bảo hộ, chú thích các hình vẽ và bản tóm tắt (bản công bố hoặc bản gốc nộp ban đầu, nếu đơn chưa được công bố và bản sửa đổi và bản giải thích phần sửa đổi, nếu đơn quốc tế có sửa đổi theo Điều 19 và/hoặc Điều 34(2)(b) của Hiệp ước);

(iii) Bản dịch ra tiếng Việt của các phụ lục báo cáo xét nghiệm sơ bộ quốc tế (khi có yêu cầu xét nghiệm nội dung đơn);

(iv) Phí và lệ phí quốc gia.

b) Đơn quốc tế nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc thời hạn quy định trên đây có thể được chấp nhận với điều kiện người nộp đơn nộp lệ phí theo quy định.

6. Yêu cầu hưởng quyền ưu tiên

Để được hưởng quyền ưu tiên, người nộp đơn phải khẳng định lại điều đó trong tờ khai, nộp phí xin hưởng quyền ưu tiên và theo yêu cầu của Cục Sở hữu trí tuệ, phải nộp bản dịch ra tiếng Việt của các tài liệu đã nộp cho Văn phòng quốc tế các tài liệu cần thiết theo Quy tắc 17.1(a) của Quy chế thi hành Hiệp ước.

Đối với đơn PCT, việc xử lý yêu cầu hưởng quyền ưu tiên phù hợp với Hiệp ước PCT và Quy chế thi hành Hiệp ước.